Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Định hướng dạy học lấy học sinh làm trung tâm Theo Nghị quyết 29-NQ/TW về đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục có điểm nhấn mạnh là tích cực hóa các hoạt động học tập, "lấy người học làm trung tâm". Điều này thống nhất với các triết lý của nhiều nền giáo dục trên thế giới. Tại những hội thảo từ năm 1996 lần đầu tiên được xuất hiện việc lấy HS làm trung tâm trong giáo dục phổ thông của Việt Nam Đến nay, hoạt động DH không còn làm HĐ trung tâm mà người ta thường nhấn mạnh vào việc lấy HĐ học tập làm trung tâm.
Điều này dẫn đến việc GV phải luôn linh hoạt, tổ chức nhiều HĐ học tập trong tiết dạy để tạo hứng thú cho HS, chứ không phải trong mỗi tiết dạy GV chỉ thuyết trình – giảng giải, truyền thụ kiến thức một chiều. Trước đây, trong 45 phút của tiết học khi lấy việc dạy học là trung tâm thì GV chỉ thuyết trình – giảng giải do vậy GV chỉ giải quyết được những kiến thức cơ bản của môn học với HS. Nhưng trong bối cảnh bùng nổ công nghệ thông tin hiện nay, đòi hỏi HS phải có nhiều kiến thức, kĩ năng để giải quyết các vấn đề vậy thì cần có thêm bao nhiêu tiết cho bài học nữa thì cũng không đủ thời lượng cho GV truyền thụ kiến thức đến HS. Như vậy, việc chuyển sang đào tạo cho người học năng lực làm việc và tự tiếp cận được nguồn tư liệu để đáp ứng được yêu cầu hiện nay là cần thiết.
Khi bàn giao nhiệm vụ học tập cho các em thì thầy cô phải chú ý đến phong cách học của người học, đó chính là điểm đặc biệt trong quan điểm giáo dục lấy HS làm trung tâm không những vậy GV cần quan tâm đến sự hứng thú, cảm xúc của học trò. GV cần phải nắm được các phong cách học phổ biến của HS trong lớp để bàn giao nhiệm vụ học tập phù hợp cho HS. Từ đó, sẽ giúp các em cảm thấy hứng thú, tự tin hơn và khi HS được làm việc đúng cách, đúng 5 đam mê, sở trường của bản thân thì những sản phẩm của nhiệm vụ đó sẽ rất sống động, đặc sắc và sáng tạo. Như vậy, quan điểm lấy HS làm trung tâm luôn chú trọng đến cảm xúc cũng như hứng thú học tập của HS.
Định hướng DH lấy HS làm trung tâm luôn chú trọng đến phong cách học tập đa dạng của HS và cũng là quá trình trải nghiệm sản phẩm học tập sáng tạo, độc đáo của HS. Các hình thức tổ chức DH lấy HS làm trung tâm được sử dụng nhiều nhất là tự học, học theo nhóm, hoạt động trải nghiệm, trò chơi đóng vai, dự án học tập, tham quan… Có thể khẳng định rằng: Việc dạy học "lấy người học làm trung tâm" có tư tưởng chủ đạo chủ yếu là lấy tự học làm chính; lấy máy móc thiết bị làm phương tiện; lấy tập thể để bổ trợ cho cá nhân; lấy SGK, tài liệu, băng hình và tự đánh giá kết quả học tập. Lối học này sẽ hình thành cho HS tính tự tin, sự mạnh dạn, có tính cách, biết cách học, cách làm, biết cách giao tiếp xã hội, cách khẳng định chân lý từ đó tạo nên con người rất thực tế, dẫn đến sự sáng tạo và năng động trong tư duy, trong hoạt động của cuộc sống. Dạy học khám phá 1.
Quan niệm về dạy học khám phá Theo từ điển tiếng Anh (V.com, English – English dict): "Discover là khám phá ra, phát hiện ra, tìm ra, nhận ra, để lộ ra, bộc lộ ra, phơi bày ra; là xác định sự tồn tại, sự hiện diện, một thực tế; là nhìn thấy lần đầu tiên; mang đến một sự thật; là tìm thấy cái mong muốn; thực hiện một tìm kiếm mới.” [12] Theo từ điển tiếng Việt: “Phát hiện là tìm ra cái chưa biết; khám phá là tìm ra cái ẩn giấu, bí mật.”, “Sự khám phá là hành động phát hiện thường được hiểu nghĩa là sau một quá trình tìm kiếm sẽ thấy được một đồ vật (hay sự vật) bị che giấu hay chưa được thấy.” [11] Theo Bùi văn Nghị (2009, trang 160): 6 Ta có thể so sánh, phân biệt giữa "phát hiện" và "khám phá" như sau: Phát hiện và khám phá đều là tìm ra cái chưa biết, cái còn ẩn giấu. Nhưng nhìn chung, nếu việc tìm ra cái gì đó do chợt thấy, hay một cách tình cờ, người ta thường nói đó là phát hiện. Cũng có khi tìm kiếm mãi chẳng được, nhưng tại một thời điểm nào đấy chợt có được. Chẳng hạn, đang đi chúng tôi phát hiện ra có người theo dõi chúng tôi, cô ấy phát hiện ra nơi ở của con rắn, phát hiện ra virus.
Nếu việc tìm ra cái chưa biết, cái còn ẩn giấu là kết quả của một quá trình tìm tòi, nghiên cứu, người ta thường nói đó là khám phá. Chẳng hạn, Roentgen khám phá ra tia X quang; anh ấy đã tìm thấy mức độ chì trong nước uống quá mức cho phép. Xét về khía cạnh tìm tòi, khám phá thì phương pháp dạy học này rất gần với phương pháp đàm thoại ơrixtic (vấn đáp tìm tòi); dạy học phát hiện, giải quyết vấn đề, dạy học kiến tạo. Có chăng thì có thể phân biệt chúng về cách tổ chức các hoạt động học tập hoặc về mức độ, hiệu quả của sự tìm tòi phát hiện.” [9] Như vậy: Nếu việc tìm ra cái ẩn giấu, cái chưa biết trong dạy học khám phá thì chỉ đòi hỏi người học cố gắng ở mức độ vừa phải, nhẹ nhàng, ta có thể xem việc đó là phát hiện, còn nếu đòi hỏi ở mức độ cao hơn ta có thể xem việc đó là khám phá.
Theo Trần Bá Hoành (2004): “Hoạt động khám phá trong học tập không phải là một quá trình mò mẫm như trong nghiên cứu khoa học mà là quá trình hoạt động tìm tòi có hướng dẫn của GV, trong đó GV khéo léo đặt HS vào vị trí khám phá lại những tri thức. GV không cung cấp những kiến thức mới thông qua phương pháp thuyết trình giảng giải mà bằng tổ chức HĐKP qua các hoạt động khám phá để HS tự lực chiếm lĩnh tri thức mới.”[7] Trong PPDH khám phá, nhằm phát huy tính tích cực, tự giác, tự học và năng lực giải quyết vấn đề cho HS thì GV có thể tổ chức cho HS học tập theo nhóm. PPDH khám phá này đòi hỏi người GV phải luôn linh hoạt và gia công rất nhiều để chỉ đạo HĐ nhận thức của HS. Người thầy có thể vận dụng 7 các HĐ nhận thức như: định hướng phát triển tư duy cho HS, lựa chọn nội dung của vấn đề và đảm bảo tính vừa sức với HS; các phương tiện trực quan hỗ trợ; tổ chức cho HS trao đổi theo nhóm trên lớp… Trong từng phần, từng hoạt động của mỗi tiết học người GV cần phải chỉ đạo như thế nào để cho mọi thành viên trong nhóm có thể cùng nhau trao đổi và tranh luận tích cực.
Việc làm này không hề dễ dàng, yêu cầu GV cần phải linh hoạt và đầu tư công phu vào nội dung bài giảng. Thông qua con đường nhận thức HS được tiếp thu cái mới, các tri thức khoa học: thông qua HĐ trao đổi, hợp tác với bạn từ những tri thức vốn có của bản thân tạo thành tri thức có tính chất xã hội của cộng đồng lớp học. Sau mỗi HĐ GV sẽ đưa ra kết luận về cuộc đối thoại và nội dung chủ đạo của vấn đề đó, làm tiền đề cho HS tự kiểm tra, đánh giá, tự điều chỉnh tri thức của bản thân để tiếp cận với tri thức khoa học của nhân loại. Nhân tố quan trọng quyết định sự phát triển của bản thân người học đó là khả năng tự điều chỉnh nhận thức của bản thân góp phần làm tăng cường tính mềm dẻo trong năng lực tư duy và năng lực tự học.
Trong luận văn này: Dạy học khám phá chính là quá trình dạy học mà trong đó GV cần chuẩn bị trước các kế hoạch khám phá và tổ chức, chuẩn bị trước nội dung và xác định yêu cầu cần đạt của bài học, điều khiển HS phải tự giác, tích cực chủ động chiếm lĩnh các kĩ năng, tri thức, kiến thức mới thông qua các hoạt động tìm tòi khám phá, phát hiện ra tri thức và cách thức hoạt động mới. + Đặc điểm của dạy học khám phá Những dấu hiệu đặc trưng của dạy học khám phá dễ nhận thấy là: - Trong DH khám phá HĐ của người học được đặt lên vị trí trung tâm. HS chiếm lĩnh tri thức mới dưới sự hướng dẫn của GV, HS được làm việc cùng nhau để phân tích, giải quyết vấn đề và vận dụng các khái niệm mới bằng cách khám phá, tìm tòi, quan sát, phân tích, phát hiện, đặt câu hỏi và rút ra kết luận. 8 - Để phát hiện ra tri thức mới người dạy cần tổ chức linh hoạt các HĐ cho người học: trao đổi, hợp tác, thảo luận với nhau.
- Qua HĐ tự khám phá sẽ giúp cho HS rút ra được nhiều kinh nghiệm học tập từ bạn bè và GV. Từ đó, HS biết cách tự học, tự kiểm tra, tự đánh giá kết quả học tập của mình cũng như làm cho HS biết cách điều chỉnh các phương pháp học sao cho phù hợp và hiệu quả nhất đối với bản thân. + Bản chất của dạy học khám phá Hoạt động của GV: Trong DH khám phá GV là người định hướng phát triển tư duy cho HS nên cần đảm bảo tính vừa sức đối với HS và sự linh hoạt lựa chọn nội dung của vấn đề, GV có thể hướng dẫn HS sử dụng các phương tiện trực quan, tham gia trải nghiệm và tạo ra môi trường học tập tích cực, tổ chức cho HS trao đổi theo nhóm trên lớp để giải quyết vấn đề như đã nêu ra. Hoạt động của HS: Thông qua các hoạt động hợp tác, trao đổi với bạn từ các vốn sống, tri thức, kinh nghiệm vốn có của bản thân sẽ tạo nên tri thức mới có tính chất xã hội của cộng đồng lớp học.
Sau mỗi HĐ, GV nhận xét các ý kiến và chốt lại những điều cốt lõi để HS làm cơ sở tự điều chỉnh, kiểm tra tri thức của bản thân. HS kích thích được lòng ham mê học tập sau khi giải quyết các vấn đề thành công đó chính là động lực của quá trình dạy học. Họ có khả năng tự điều chỉnh nhận thức, hành vi của bản thân góp phần làm tăng cường tính mềm dẻo trong năng lực tự học và năng lực tư duy. Quá trình nhận thức độc đáo của người học chính là hoạt động khám phá tri thức mới.