Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn. Chương 2: Thiết kế tình huống hỗ trợ đánh giá thực trong dạy học chủ đề xác suất ở lớp 10 THPT. Chương 3: Thực nghiệm sư phạm. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.
Định hướng đổi mới chương trình giáo dục phổ thông 1. Vấn đề đổi mới phương pháp đánh giá học sinh Giáo dục nói chung là cách học tập kiến thức, kĩ năng thói quen của con người truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác thông qua hình thức đào tạo, nghiên cứu giảng dạy. Giáo dục có vai trò quan trọng đối với mỗi quốc gia và con người. Giáo dục giúp con người có trí tuệ, kiến thức, kĩ năng để góp phần đổi mới xã hội và thích nghi với hoàn cảnh tự nhiên, hoàn cảnh xã hội tốt nhất.
Quan điểm đổi mới chương trình giáo dục nước ta theo định hướng phát triển năng lực và phẩm chất người học. Sự đổi mới toàn diện, đồng bộ từ chương trình, sách giáo khoa, phương pháp dạy học và kiểm tra đánh giá. Việc đổi mới phương pháp ĐG nhằm đánh giá khách quan, chất lượng giáo dục, khuyến khích học sinh thể hiện năng lực bản thân. Theo Chương trình GDPT mới năm 2018: Năng lực là thuộc tính cá “ nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện cho phép con người huy động tổng hợp kiến thức, kỹ năng và các thuộc tính cá nhân thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể.
Đánh giá thành tích học tập của HS không chỉ đánh giá kết quả mà chú ý cả quá trình học tập. Đánh giá thành tích học tập theo quan điểm phát triển năng lực (PTNL), không giới hạn vào khả năng tái hiện tri thức mà chú trọng ” khả năng vận dụng tri thức trong việc giải quyết các nhiệm vụ phức hợp. Cần phối hợp các hình thức, phương pháp kiểm tra, đánh giá khác nhau. Kết hợp giữa kiểm tra miệng, kiểm tra viết, bài tập thực hành; kết hợp giữa “ trắc nghiệm tự luận và trắc nghiệm khách quan.
Phối hợp giữa đánh giá thường xuyên và đánh giá định kì, giữa đánh giá của GV và tự đánh giá của HS, kết hợp giữa hình thức đánh giá bằng trắc nghiệm khách quan và tự luận nhằm phát huy những ưu điểm của các hình thức đánh giá này. Đổi mới hình thức đánh giá học sinh Vấn đề đổi mới căn bản hình thức và phương pháp thi, kiểm tra và đánh giá kết quả giáo dục, đào tạo, bảo đảm trung thực, khách quan cũng đã được đề cập. Đổi mới kiểm tra đánh giá theo hướng chú trọng đánh giá phẩm chất và năng lực của HS. Chú trọng đánh giá quá trình: đánh giá trên lớp; đánh giá bằng hồ sơ; “ đánh giá bằng nhận xét; tăng cường hình thức đánh giá thông qua sản phẩm dự án; bài thuyết trình; kết hợp kết quả đánh giá trong quá trình giáo dục và đánh giá tổng kết cuối kỳ, cuối năm học, xác nhận đúng năng lực của người học; đánh giá khả năng và hiệu quả vận dụng tổng hợp… do vậy phải coi trọng đánh giá trong suốt quá trình dạy - học và bằng nhiều hình thức [16].
” Các hình thức kiểm tra, đánh giá đều hướng tới phát triển năng lực của “ HS; coi trọng đánh giá để giúp đỡ HS về phương pháp học tập, động viên sự cố gắng, hứng thú học tập của các em trong quá trình dạy học. Việc kiểm tra, đánh giá không chỉ là việc xem HS học được cái gì mà quan trọng hơn là biết HS học như thế nào, có biết vận dụng không [17]. ” Đánh giá phải diễn ra trong suốt quá trình dạy học, giúp HS liên tục “ được phản hồi để biết mình mắc lỗi, thiếu hoặc yếu ở điểm nào để cả GV và HS cùng điều chỉnh hoạt động dạy và học. Đánh giá phải tạo ra sự phát triển, phải nâng cao năng lực của người học, tức là giúp các em hình thành khả năng ” tự đánh giá, đánh giá lẫn nhau… để phát triển năng lực tự học.
Đổi mới kiểm tra đánh giá sẽ là động lực thúc đẩy các quá trình khác như đổi mới phương pháp dạy học, đổi mới cách thức tổ chức hoạt động dạy học, đổi mới quản lý. Đổi mới kiểm tra, đánh giá là hướng vào bám sát mục tiêu “ từng bài, từng chương và mục tiêu giáo dục của môn học ở từng lớp, từng cấp. Các câu hỏi, bài tập sẽ đo được mức độ thực hiện các mục tiêu đã được xác định. Đổi mới nội dung, phương pháp theo hướng tích cực, chủ động, sáng tạo, tạo niềm tin, năng lực tự học cho HS thì đánh giá phải đổi mới theo hướng phát 6 triển trí thông minh, sáng tạo của HS, khuyến khích vận dụng linh hoạt các kiến thức, kỹ năng đã học vào những tình huống thực tế, làm bộc lộ những cảm xúc, thái độ của HS trước những vấn đề nóng hổi của đời sống cá nhân, gia đình và cộng đồng.
Chừng nào việc kiểm tra đánh giá chưa thoát khỏi quỹ đạo học tập thụ động thì chưa thể phát triển dạy và học tích cực. ” Đánh giá hoạt động dạy học không chỉ đánh giá thành tích học tập của “ HS mà còn bao gồm đánh giá quá trình dạy học nhằm cải tiến quá trình dạy học. Chú trọng kiểm tra, đánh giá hành động, tình cảm của HS: nghĩ và làm. Năng lực vận dụng vào thực tiễn của HS, thể hiện qua ứng xử, giao tiếp.
Cần bồi dƣỡng những phương pháp, kỹ thuật lấy thông tin phản hồi của HS để đánh giá quá trình dạy học [12]. ” Đánh giá kết quả học tập của HS, thành tích học tập của HS không chỉ đánh giá kết quả cuối cùng mà chú ý cả quá trình học tập. Trong đó không tập “ trung vào khả năng tái hiện tri thức mà chú trọng khả năng vận dụng tri thức trong việc giải quyết các nhiệm vụ phức hợp. Căn cứ vào đặc điểm của từng môn học và hoạt động giáo dục ở mỗi cấp học, cần có quy trình đánh giá bằng điểm kết hợp với nhận xét của GV cho từng môn học và hoạt động giáo dục.
“Nội dung đánh giá có thể hơi “cao” hơn so với trình độ HS (đòi hỏi tư duy, suy luận), nhưng không được quá khó, để kích thích sự tìm tòi, sáng tạo, hứng thú. Chú trọng yêu cầu đòi hỏi HS phải hiểu nội dung, hiểu bản chất nội dung, không chỉ thuộc một cách máy móc. Theo hướng phát triển các phương pháp tích cực để đào tạo những con người năng động, sớm thích nghi với đời sống xã hội, thì việc kiểm tra đánh giá không chỉ dừng lại ở yêu cầu tái hiện kiến thức, lập lại các kỹ năng đã học mà phải khuyến khích trí thông minh, óc sáng tạo trong việc giải quyết những tình huống thực tế. Hệ thống câu hỏi kiểm tra đánh giá cũng cần thể hiện sự phân hoá, đảm bảo 60% câu hỏi, bài tập đo được mức độ đạt chuẩn - mặt bằng về nội dung học vấn dành cho mọi HS THPT và 40% còn lại phản ánh mức độ nâng cao - dành cho HS có năng lực trí tuệ và thực hành cao hơn [28].
” 7 Đổi mới kiểm tra đánh giá bao gồm cả đổi mới hình thức đánh giá, phương thức đánh giá, phương tiện đánh giá, tiêu chí đánh giá, thiết kế đề kiểm tra để đánh giá HS. Đổi mới phương thức đánh giá là tăng cường đánh giá trong giờ, ngoài giờ, chính thức và không chính thức. Đánh giá qua quan sát, trao đổi - thảo luận, qua tự học, chuẩn bị, tìm thêm tư liệu, sáng tạo, đồ dùng học tập. Tạo sự kết hợp linh hoạt giữa kiểm tra, đánh giá định tính và định lượng.
Chú trọng hướng dẫn HS phát triển khả năng và thói quen tự đánh giá, đánh giá lẫn nhau. Kết hợp giữa đánh giá của thầy với đánh giá của trò. Có được như vậy thì mới tự điều chỉnh được cách dạy và cách học. Đổi mới các tiêu chí đánh giá là phải đánh giá được toàn diện các mặt của giáo dục của HS; đảm bảo sự tin cậy, chính xác, công bằng, khách quan, phản ánh chất lượng thực; đảm bảo khả thi, phù hợp với điều kiện của HS, cơ sở giáo dục, mục tiêu từng môn học; đảm bảo yêu cầu phân hoá; đảm bảo giá trị, hiệu quả cao.
Đổi mới thiết kế đề kiểm tra để đánh giá HS là vừa kết hợp ” giữa tự luận và trắc nghiệm khách quan. Thiết kế đề phải xác định được mục đích, yêu cầu của đề; xác định mục tiêu dạy học; thiết lập ma trận hai chiều; thiết kế đáp án, biểu điểm. Khung ĐG của PISA là một trong các hình thức đánh giá đảm bảo ĐG theo hướng PTNL. Khung ĐG PISA chú trọng đến khả năng vận dụng kiến thức đã học vào xử lí, giải quyết các tình huống thực tiễn.
Khung ĐG PISA gồm 3 cấp độ: nhận biết/ thu thập thông tin; kết nối và tích hợp/ phân tích, lý giải; phản hồi và đánh giá.1: Chiều cao của học sinh [28, tr. Trong một giờ Toán “ học, các HS đều được đo chiều cao của mình. Chiều cao trung bình của các HS nam là 160 cm, còn của các HS nữ là 150 cm. An là người cao nhất - cô cao 180 cm.
Việt là người thấp nhất - cậu cao 130 cm. Hai HS vắng mặt trong giờ hôm đó, nhưng họ cũng được đo chiều cao khi đến lớp trong giờ học hôm sau và mức trung bình được tính toán lại. Thật kỳ lạ là chiều cao trung bình của HS 8 nữ và chiều cao trung bình của HS nam đều không thay đổi. Từ thông tin này, có thể rút ra những kết luận nào dưới đây? Hãy khoanh tròn vào "Có" hoặc "Không" đối với mỗi kết luận.
” Có thể rút ra kết luận này hay Kết luận không? Cả hai HS đều là nữ. Có/ Không Cả hai học sinh đều cao bằng nhau. Có/ Không Có một học sinh nam và một HS nữ. Có/ Không Chiều cao trung bình của tất cả các HS Có/ Không đều không thay đổi.
Việt vẫn là người thấp nhất. Có/ Không Hướng dẫn trả lời: Các số đo chiều cao có thể xem như thừa thông tin vì không sử dụng khi giải bài toán. Có 3 khả năng có thể xảy ra: 1. Hai HS vắng mặt đều là nữ chiều cao trung bình của 2 HS này bằng chiều cao trung bình của các HS nữ không vắng mặt.
Hai HS vắng mặt đều là nam chiều cao trung bình của 2 HS này bằng chiều cao trung bình của các HS nam không vắng mặt .