Chương I : TỔNG QUAN I. Sơ lược về lịch sử phát triển ngành giấy: Giấy là thứ không thể thiếu được trong sản xuất và trong cuộc sống hàng ngày, giá trị sản xuất kinh doanh của ngành giấy không đánh giá về doanh thu, mà đánh giá trên trên sản lượng. Nghề giấy tại Việt Nam đã hình thành từ rất lâu. Nó thực sự trở thành một ngành sản xuất công nghiệp từ những năm 60 của thế kỷ 20, khi ở cả 2 miền Nam Bắc xây dựng và đưa vào sản xuất các nhà máy giấy có quy mô lớn và vừa, với trang thiết bị, công nghệ tương đối hiện đại lúc bấy giờ.
Đó là các nhà máy giấy Đồng Nai (COGIDO), Tân Mai (COGIVINA), Thủ Đức, Linh Xuân … ở miền Nam và các nhà máy giấy Hoàng Văn Thụ, Việt Trì, Vạn Điểm, Bãi Bằng … ở miền Bắc. Ngành giấy lâm vào khủng hoảng và kém phát triển ở thời kỳ những năm 80 và 90 của thế kỷ trước. Từ năm 2000 trở lại đây, ngành giấy phát triển nhanh hơn. Sản lượng toàn ngành giấy Việt Nam năm 2000 đạt được 420.000 tấn giấy; năm 2005 sản xuất ra 830.
Đến năm 2008 ngành giấy đạt được 60% nhu cầu giấy tiêu dùng trong nước và 40% giấy nhập khẩu. Theo đó năm 2009, sản lượng toàn ngành đạt được cao hơn năm 2008, đạt 2,14% Năm 2010, sản lượng ngành giấy tăng 10% so với năm 2009, tăng trưởng GDP của cả nước 6,8%. Để đáp ứng nhu cầu sử dụng giấy ngày càng tăng nhanh, ngành công nghệ sản xuất bột giấy cũng không ngừng phát triển và cải tiến đặc biệt là sự phát triển của công nghệ sản xuất bột nghiền, công nghệ nấu bột liên tục, tấy bột liên tục nhiều giai đoạn, máy xeo lưới đôi và hệ thống điều khiển kiểm tra bằng máy tính. Nguyên liệu được dùng trong sản xuất bột giấy ở Việt Nam gồm hai nguồn căn bản là từ gỗ và tre nứa.
SVTH: NGUYỄN THỊ MINH KHÁ Trang 6 Luận văn tốt nghiệp GVHD: PGS – TS. NGUYỄN VĨNH TRỊ I. Tình trạng và xu hướng phát triển của bột giấy: Bột giấy thường có nguồn gốc từ thực vật. Tuy nhiên, người ta cũng có thể làm những loại giấy đặc biệt từ các sợi động vật, sợi vô cơ hay sợi tổng hợp.Bột giấy chủ yếu sản xuất từ gỗ bằng hai phương pháp cơ bản là phương pháp hóa học và phương pháp cơ học.
So với phương pháp hóa học, sản xuất bột theo phương pháp cơ học đòi hỏi chi phí đầu tư thấp hơn, công nghệ đơn giản hơn. Bột cơ có một số tính chất để làm giấy như: chỉ số tán xạ ánh sáng cao (độ đục cao),độ trắng thích hợp, độ nhẵn và độ khối cao, tạo hình tốt, khả năng in ấn tốt. Từ khi phương pháp sản xuất bột cơ học ra đời, nó góp một phần sản lượng không nhỏ trong tổng lượng bột cung cấp cho ngành sản xuất giấy. Phương pháp sản xuất bột cơ học đầu tiên là phương pháp mài, bột thu được từ phương pháp này do lực ma sát giữa đá mài và gỗ, xơ sợi được tách ra.
Nhược điểm lớn nhất của phương pháp mài cho xơ sợi có độ bền cơ học kém, năng lượng tiêu hao cho mài lớn, lượng thải lớn. Để khắc phục những nhược điểm trên phương pháp nghiền ra đời. Lúc đầu nghiền chỉ đơn thuần là cho nguyên liệu gỗ đã được xử lý sơ bộ như cắt thành dăm rồi đưa vào máy nghiền, dưới áp lực nghiền xơ sợi được tách ra. Do yêu cầu hiệu quả kinh tế ngày càng cao, tính chất bột ngày một tốt hơn dẫn đến sự ra đời của phương pháp nghiền như nghiền ở nhiệt độ cao, áp suất cao, có tiến hành xử lý hóa chất trước lúc đưa vào nghiền hoặc có sự phối hợp giữa các điều kiện trên.
Mỗi loại bột sản xuất ra theo quá trình công nghệ nào thì có tên theo phương pháp sản xuất đó. Ví dụ bột: Bột nhiệt cơ (TMP) dăm mảnh được xử lý sơ bộ bằng xông hơi, sau đó được mang đi nghiền hai giai đoạn. Bột hóa nhiệt cơ (CTMP) dăm mảnh được xử lý hóa chất tiếp đến xông hơi và sau cùng là nghiền hai giai đoạn. Bột nhiệt hóa cơ(TCMP) dăm mảnh được xông hơi tiếp đến xử lý hóa chất sau đó là nghiền hai giai đoạn ….
SVTH: NGUYỄN THỊ MINH KHÁ Trang 7 Luận văn tốt nghiệp GVHD: PGS – TS. NGUYỄN VĨNH TRỊ Mục đích của các quá trình tiền xử lý là làm mềm dăm mảnh giúp cho quá trình nghiền tốn ít năng lượng hơn, đồng thời cho bột có tính chất cơ lý tốt hơn. Việc sử dụng các giai đoạn tiền xử lý tùy thuộc vào yêu cầu bột được sản xuất, nguyên liệu sử dụng… dây chuyền sản suất bột cơ học ở sản xuất theo phương pháp nhiệt cơ (TMP) dăm gỗ ban đầu được xông hơi ở thiết bị xông hơi sau đó tiến hành nghiền hai giai đoạn, giai đoạn một nghiền ở áp suất cao, giai đoạn hai nghiền ở áp suất khí quyển. Do yêu cầu tính chất bột cũng như hiệu quả kinh tế, dây chuyền sản xuất bột nhiệt cơ (TMP) được nâng cấp lên thành dây chuyền sản xuất bột hóa nhiệt cơ (CTMP), trong dây chuyền này dăm ban đầu được xử lí sơ bộ bằng hóa chất , tiếp đó đem đi xông hơi và qua nghiền hai giai đoạn.
Trong dây chuyền TMP có lắp thêm vis thẩm thấu để xử lí dăm mảnh bằng hóa chất trước khi đưa vào thiết bị xông hơi, dây chuyền TMP trở thành dây chuyền CTMP. Bột CTMP có tính chất tương tự như bột hóa nên nó thường dùng thay thế cho bột hóa trong thành phần một số loại giấy, khả năng hấp phục nước của bột CTMP không bị ảnh hưởng trong quá trình sấy. Nội dung thiết kế: Thiết kế nhà máy sản xuất bột hóa nhiệt cơ (CTMP) với năng suất 55. Địa điềm xây dựng: I.
Yêu cầu về xây dựng nhà máy: Đối với các đề tài về thiết kế nhà máy thì vấn đề lựa chọn địa điểm xây dựng nhà máy thích hợp đóng vai trò quan trọng cho sự tồn tại và phát triển của nhà máy. Địa điểm xây dụng nhà máy thường phải gần nguồn cung cấp nguyên liệu, đảm bảo về nguyên liệu sản xuất cả về số lượng và chất lượng trong suốt thời gian nhà máy tồn tại và phát triển. Đồng thời làm giảm chi phí vận chuyển. SVTH: NGUYỄN THỊ MINH KHÁ Trang 8 Luận văn tốt nghiệp GVHD: PGS – TS.
NGUYỄN VĨNH TRỊ Chọn địa điểm xây dựng phải gần đường giao thông (đường bộ, đường sắt, đường thủy, đường hàng không) để thuận tiện cho việc vận chuyển nguyên liệu sản xuất và sản phẩm, giảm chi phí đầu tư đường mới, giảm chi phí xây dựng nhà máy. Nhà máy nên xây dựng gần các khu kinh tế , khu công nghiệp, vùng quy hoạch của trung ương, địa phương để đảm bảo an ninh, hợp tác về phúc lợi xã hội, tiêu thụ và sử dụng sản phẩm qua lại, đường giao thông, năng lượng, nguồn lao động… Mặt bằng xây dựng nhà máy phải bằng phẳng, không bị ngập lụt, có mạch nước ngầm đủ sâu để giảm chi phí nền móng, phải đủ diện tích xây dựng và bố trí các công trình hiện hữu, có khu để mở rộng sản xuất trong tương lai. Nhà máy sản xuất bột giấy thường ít tạo tiếng ồn nên không cần xây dựng xa khu dân cư. Bên cạnh đó nhà máy cần có quy trình xử lí môi trường, xử lí nước thải thích hợp, xây dựng rào bao bọc, trồng cây xanh… Cần phải tham khảo các số liệu điều tra về địa chất công trình, hướng gió, thời tiết khí hậu trong vùng…(ít nhất phải 3 năm) để bố trí các hạng mục công trình cho phù hợp.
Lựa chọn địa điểm xây dựng nhà máy: Qua tìm hiểu về tình hình phát triển kinh tế và tìm năng phát triển của các khu công nghiệp trong cả nước, tôi đã chọn khu công nghiệp Bình Dương làm địa điểm xây dựng nhà máy vì những lí do sau: Tình hình phát triển kinh tế: Bình Dương được coi là tỉnh có tốc độ phát triển công nghiệp nhanh theo đường lối đổi mới của Đảng. Chỉ hơn mười năm, Bình Dương đã có 28 khu công nghiệp , diện tích hơn 9.000 ha và một khu Liên hợp Công nghiệp - Dịch vụ - Đô thị rộng gần 6.000 ha; trong đó, có trung tâm hành chính thành phố mới Bình Dương 1.000 ha đang được đầu tư xây dựng với mục tiêu văn minh - hiện đại, thu SVTH: NGUYỄN THỊ MINH KHÁ Trang 9 Luận văn tốt nghiệp GVHD: PGS – TS. NGUYỄN VĨNH TRỊ hút 9.012 doanh nghiệp trong nước, vốn đầu tư hơn 60 nghìn tỷ đồng và 1.966 dự án đầu tư nước ngoài với số vốn 13,3 tỷ USD. Giá trị sản xuất công nghiệp năm 2010 ước đạt 105 nghìn tỷ đồng, xuất khẩu 8,532 tỷ USD, thu ngân sách 16 nghìn tỷ đồng và giải quyết việc làm cho 46 nghìn lao động.
Cơ cấu kinh tế đến năm 2010: công nghiệp 63%, dịch vụ 32,6%, nông nghiệp 4,4%, GDP bình quân đầu người 30,1 triệu đồng/năm (1. Tại Khu Công nghiệp - Dịch vụ - Đô thị Bình Dương, đến nay các cơ sở hạ tầng chính như: đường giao thông, hệ thống cấp thoát nước, điện, bưu điện, cây xanh đã được xây dựng khá hoàn chỉnh. Những vấn đề khác như công tác đào tạo, giải quyết việc làm cho người lao động ở các khu tái định cư đều được Bình Dương quan tâm thực hiện. Có 6 khu công nghiệp mới đều đã hoàn thành thủ tục thành lập đầu tư và tiến hành cho thuê đất để xây dựng nhà máy, trong đó: riêng Khu Công nghiệp Việt Nam – Singapore II đến nay đã có khách hàng lấp kín diện tích.
Ngoài các khu công nghiệp đã hoạt động hoặc đang trong quá trình hình thành, xây dựng, Bình Dương cũng có kế hoạch sẽ xây dựng thêm 12 cụm công nghiệp với diện tích 1. Trong đó, có 3 cụm đã bước đầu triển khai lấp đầy diện tích, 3 cụm đang đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng và thu hút vốn dầu tư, 6 cụm đang trong giai đoạn đền bù, giải phóng mặt bằng… Công tác thu hút và sử dụng lao động trong các khu công nghiệp tỉnh Bình Dương đều đạt được kết quả tốt và thực hiện đúng theo các quy định của pháp luật và Bộ Luật lao động, công tác an toàn lao động và Vệ sinh lao động luôn được quan tâm thực hiện. Các khu công nghiệp tỉnh Bình Dương đã thu hút được trên 6.000 lao động làm việc, trong đó, lao động trong nước là 5.500 người, lao động người Bình Dương làm việc trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là 14.923 người, lao động người nước ngoài đang làm việc tại các doanh nghiệp khu công nghiệp là 3.