ĐẶT VẤN ĐỀ Ngày nay, sự phát triển của nền đại công nghiệp, nền kinh tế thị trường đang từng bước mang lại cho con người một cuộc sống đầy đủ, ấm no, và nâng cao đời sống của người dân. Để đạt được những thành quả này chúng ta đã trải qua một quá trình lâu dài với việc xây dựng cơ sở hạ tầng từ thành thị tới nông thôn bao gồm: Điện, Đường, Trường, Trạm, trong đó đường giao thông được chú trọng quan tâm bởi đây là yêu cầu cấp thiết cần được giải quyết của con người để từng bước nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của người dân. Hiện nay, mạng lưới giao thông tại các vùng nông thôn còn thấp nên chưa có điều kiện phát triển tiềm năng của vùng và nâng cao đời sống của người dân. Với chủ trương chính sách của Đảng được thể hiện trong văn kiện Đại Hội VIII về phát triển kinh tế nông thôn thì chúng ta cần chú trọng phát triển cơ sở hạ tầng ở nông thôn.
Phú Thọ là một tỉnh miền núi phía Bắc có nhiều tiềm năng phát triển kinh tế. Thực hiện chủ trương phát triển kinh tế nông thôn, Ủy ban nhân dân Tỉnh Phú Thọ đã tiến hành đầu tư xây dựng công trình giao thông các xã miền núi với tổng kinh phí là 30 tỷ 905 triệu đồng. Chân Mộng là một xã của huyện Đoan Hùng đã được UBND tỉnh Phú Thọ đầu tư xây dựng đường giao thông tạo điều kiện phát triển kinh tế. Mặt khác, xã Chân Mộng là vị trí của Trung tâm nghiên cứu thực nghiệm lâm sinh Cầu Hai.
Hiện nay, trung tâm đang đầu tư xây dựng cơ sở vật chất để nâng cao năng lực nghiên cứu của mình trong đó có tuyến đường qua xã Chân Mộng là một hạng mục công trình quan trọng. Được sự đầu tư của UBND Tỉnh Phú Thọ, Trung tâm nghiên cứu thực nghiệm lâm sinh Cầu Hai làm chủ đầu tư và người dân địa phương. Với sự giúp đỡ của công ty Tư vấn và xây dựng thương mại, tôi đã tiến hành Khóa luận tốt nghiệp: “Thiết kế kỹ thuật đường giao thông nông thôn xã Chân Mộng, Huyện Đoan Hùng, Tỉnh Phú Thọ”. 5 Chƣơng 1 TÌNH HÌNH ĐẶC ĐIỂM CHUNG CỦA KHU VỰC XÂY DỰNG TUYẾN 1.
Điều kiện tự nhiên. Vị trí địa lý. Trung tâm nghiên cứu thực nghiệm lâm sinh Cầu Hai nằm trong địa bàn xã Chân Mộng, huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ dọc theo Quốc lộ 2 cách thị xã Phú Thọ 20 Km và cách thị trấn Đoan Hùng 10 Km, có tọa độ địa lý: 20040’ vĩ Bắc 105021’ kinh Đông. Đoan Hùng là một huyện đồi núi nằm tại ngã ba ranh giới giữa tỉnh Phú Thọ và hai tỉnh Yên Bái và Tuyên Quang.
Huyện Đoan Hùng có ranh giới như sau: Phía Đông Nam giáp huyện Phù Ninh. Phía Nam giáp huyện Thanh Ba. Phía Tây và Tây Nam giáp huyện Hạ Hòa. Phía Tây Bắc giáp huyện Yên Bình của tỉnh Yên Bái.
Phía Bắc và phía Đông giáp các huyện của tỉnh Tuyên Quang. Địa hình của khu vực khá phức tạp, phần lớn là rừng đồi núi xen kẽ những thung lũng nhỏ và sông suối. Độ dốc trung bình của các đồi từ 15 0÷300. Dạng địa hình riêng biệt hoặc liền dải chiếm đa số, xen giữa các ngọn đồi núi là thung lũng nhỏ hẹp thuận lợi cho trồng lúa và cây ngắn ngày.
Theo tài liệu nghiên cứu của Nguyễn Xuân Quách và Bùi Ngạnh (Viện KHLN Việt Nam) thì địa chất của khu vực tương đối đơn giản chủ yếu là các loại đá trầm tích và biến chất tạo ra loại đất feralit vàng đỏ hay đỏ vàng phát triển trên đá phiến sa thạch Mica và Gnai có tầng phong hóa dày ( > 2m). Khí hậu, thủy văn. Trung tâm nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa, mỗi năm có 2 mùa rõ rệt: Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10 và mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm 6 sau. Theo kết quả theo dõi khí tượng thủy văn của trạm khí tượng thủy văn Phú Hộ - Đoan Hùng cho thấy: Lượng mưa trung bình hàng năm là từ 1700 ÷ 1800 mm.
Nhiệt độ trung bình các ngày trong năm là 23,40C. Độ ẩm tương đối trung bình hàng ngày là 80% ÷ 85%. Mực nước ngầm ở khu vực nghiên cứu tương đối cao, địa hình bị chia cắt bởi nhiều khe suối và tụ vào suối chính Cầu Hai chảy theo hướng Đông Nam và đổ ra sông Lô. Tuy hệ thống sông suối trong khu vực nhỏ và ít nước vào mùa khô nhưng mật độ lại khá dày.
Điều kiện kinh tế - xã hội. Dân số, lao động. Dân số toàn vùng là 102.800 nhân khẩu trong đó 45.552 lao động, chủ yếu là dân tộc Kinh chiếm 82% còn lại là các dân tộc khác như Sán Dìu, Cao Lan… Người dân sống chủ yếu bằng nghề nông lâm nghiệp, có kinh nghiệm làm kinh tế đồi rừng. Cơ sở hạ tầng.
Giao thông huyện Đoan Hùng khá thuận lợi có 2 tuyến quốc lộ chạy qua (quốc lộ 2 và quốc lộ 70), các tuyến đường liên xã là đường cấp phối rộng từ 3÷4 m. Đường thủy: có hai sông lớn chảy qua là sông Lô và sông Chảy rất thuận lợi cho vận chuyển hàng hóa đường sông. Các tuyến đường liên xã, liên huyện chủ yếu là đường cấp phối, hệ thống cầu cống, rãnh thoát nước còn thiếu nên khi vào mùa mưa đi lại gặp nhiều khó khăn, nhất là các phương tiện giao thông cơ giới. Thủy lợi: trong vùng chưa có các công trình thủy lợi lớn và kiên cố, chủ yếu là các công trình tạm do người dân tự làm nên thường bị hư hỏng vào mùa lũ.
Điện: có 21 xã có mạng lưới điện quốc gia và còn 6 xã chưa có điện. Tuy nhiên 6 xã này đang trong quá trình xây dựng các trạm trung chuyển hòa lưới điện quốc gia. 7 Y tế, giáo dục: các xã đều có trạm y tế, trường học. Song hầu hết bị hư hỏng xuống cấp, trang thiết bị còn thiếu chưa đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe, giảng dạy và học tập.
Tiềm năng đất đai lao động dồi dào, có khả năng mở rộng diện tích đất Lâm nghiệp. Đất đai tương đối thích hợp cho việc trồng rừng và phát triển vốn rừng. Vị trí địa lý thuận lợi cho việc trao đổi tiêu thụ sản phẩm và cung ứng vật tư, lương thực. Nhìn chung đời sống nhân dân trong khu vực còn nhiều khó khăn.
Đời sống vật chất tinh thần còn thấp. Song đã có nhiều dấu hiệu cho thấy đời sống nhân dân ngày càng đi lên, tiến tới xóa đói giảm nghèo và vươn lên làm giàu nhờ tiềm năng sẵn có. Tài nguyên thiên nhiên. Tổng diện tích đất tự nhiên là 28.
Trong đó: Đất nông nghiệp là 8. Đất lâm nghiệp là 17. Đất khác là 2. Địa hình bị chia cắt bởi các thung lũng hẹp và khe suối nhỏ nên thích hợp cho việc trồng rừng và phát triển cây công nghiệp ngắn ngày.
Địa chất là đất thịt nhẹ đến trung bình, kết cấu viên khá bền, đất mặt dày nên có thể khai thác để xây dựng cơ sở hạ tầng. Hƣớng phát triển của vùng. Với mục tiêu để khắc phục khó khăn về giao thông, tạo điều kiện phát triển kinh tế, xã hội của các xã miền núi khó khăn, vừa qua UBND Tỉnh Phú Thọ đã phê duyệt một số dự án đầu tư xây dựng công trình giao thông cho các xã miền núi khó khăn với tổng mức đầu tư 30 tỷ 905 triệu đồng. Trong những năm qua, khu vực đã tiến hành giao đất giao rừng đến từng hộ dân, đất rừng đã được quy hoạch sử dụng bảo vệ là 390,9 ha.
Theo chương trình 327 trồng rừng phòng hộ nâng độ che phủ của rừng từ 22,7% lên 58,1%. 8 Như vậy, để thực hiện chủ trương chính sách của nhà nước, của trung tâm nghiên cứu thực nghiệm lâm sinh Cầu Hai để tiến tới xóa đói giảm nghèo, mở mang kinh tế xã hội nên việc xây dựng tuyến đường giao thông xã Phú Hộ là cần thiết. Mục đích, yêu cầu, vai trò của tuyến thiết kế trong việc phát triển kinh tế - xã hội. Mục đích, yêu cầu.
Mục đích: Tuyến được xây dựng nhằm phục vụ sự đi lại của nhân dân địa phương, vận chuyển hàng hóa, chăm sóc và bảo vệ rừng và tăng cường năng lực nghiên cứu cho trung tâm nghiên cứu thực nghiệm lâm sinh Cầu Hai. Với những chức năng của tuyến như vậy khi tiến hành xây dựng sẽ góp phần tăng cường sự phát triển, phát huy thế mạnh của vùng góp phần nâng cao đời sống của người dân. Yêu cầu: Tuyến đường xây dựng phải phù hợp với điều kiện địa hình, khí hậu thủy văn của vùng. Tuyến có chi phí xây dựng hợp lý.
Tuyến phải đảm bảo các yêu cầu kỹ thuật theo đúng cấp hạng quy định. Xuất phát từ mục đích, yêu cầu của người dân địa phương và trung tâm nghiên cứu thực nghiệm lâm sinh Cầu Hai, tuyến đường giao thông xã Phú Hộ được xây dựng sẽ tạo điều kiện cho sự phát triển của vùng. Tuyến thiết kế đi qua trung tâm xã Phú Hộ nên có vai trò rất quan trọng trong việc xóa đói giảm nghèo và phát triển tiềm năng của vùng. Ngoài ra, tuyến thiết kế là tuyến giao thông huyết mạch của xã vì vậy có ý nghĩa trong việc phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội và từng bước đưa người dân tiến lên xây dựng quê hương ngày càng giàu đẹp hơn.
9 Chƣơng 2 THIẾT KẾ BÌNH ĐỒ - TRẮC DỌC 2. Xác định cấp hạng và các yếu tố kỹ thuật của tuyến thiết kế. Cấp hạng kỹ thuật của tuyến là mức độ hoàn thiện về mặt kỹ thuật và thiết bị để phục vụ tốt cho quá trình vận chuyển. Vì vậy để thiết kế một tuyến hoàn chỉnh thì trước hết cần xác định các thông số kỹ thuật của tuyến theo cấp hạng nhất định nhằm đảm bảo một cách tốt nhất các chỉ tiêu kinh tế - kỹ thuật trong xây dựng cũng như trong khai thác, sử dụng tuyến sau này.
Việc xác định đúng cấp hạng kỹ thuật tuyến sẽ làm cho tổng chi phí xây dựng và vận chuyển giảm mà đảm bảo thời gian khai thác tuyến. Ngược lại, nếu xác định cấp hạng kỹ thuật của tuyến không đúng thì tổng chi phí xây dựng và vận chuyển sẽ tăng lên. Để xác định cấp hạng kỹ thuật của tuyến cần căn cứ vào một số yếu tố sau: - Ý nghĩa của tuyến trong việc phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của vùng nơi tuyến đường phục vụ. - Mật độ xe chạy (xcqđ/nđ) tính cho năm cuối cùng của thời kỳ khai thác.
Hay khối lượng vận chuyển trong năm (Tấn. - Ý nghĩa của tuyến trong việc bảo vệ môi trường sinh thái và phát triển các hoạt động dịch vụ, du lịch.