Chương 1.Cơ sở lí luận và thực tiễn của dạy học nhằm phát triển năng lực vật lí của học sinh Trung học phổ thông.Thiết kế hoạt động học nội dung “Động lực học”nhằm phát triển năng lực Vật lí của học sinh Trung học phổ thông. Thực nghiệm sư phạm 4 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA DẠY HỌC NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC VẬT LÍ CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1.1 Đặc điểm môn Vật lí ở Trung học phổ thông Vật lí là môn học thuộc nhóm môn Khoa học tự nhiên, được lựa chọn theo nguyện vọng của học sinh Trung học phổ thông. Ở giai đoạn giáo dục định hướng nghề nghiệp này, môn Vật lí giúp học sinh tiếp tục phát triển các phẩm chất, năng lực đã được định hình trong giai đoạn giáo dục cơ bản, củng cố các phẩm chất, kỹ năng cốt lõi, tạo điều kiện để học sinh bước đầu nhận biết đúng năng lực, sở trường của bản thân, có thái độ tích cực đối với môn học. Môn Vật lí giúp học sinh có được những tri thức phổ thông cốt lõi của Vật lí học và ứng dụng của chúng trong cuộc sống.
Có được những kiến thức phổ thông cốt lõi về: các mô hình hệ vật lý; chất, năng lượng và sóng; lực và trường; Vận dụng được một số kỹ năng tiến trình khoa học; bước đầu sử dụng được toán học, tin học làm ngôn ngữ, công cụ giải quyết vấn đề; Vận dụng được một số tri thức vào thực tiễn, ứng xử được với thiên nhiên phù hợp với yêu cầu phát triển bền vững xã hội và bảo vệ môi trường. Chương trình môn Vật lí một mặt kế thừa và phát huy ưu điểm của chương trình hiện hành và mặt khác, tiếp thu kinh nghiệm xây dựng chương trình môn học của các nước có nền giáo dục tiên tiến trên thế giới, đồng thời tiếp cận những thành tựu của khoa học giáo dục và khoa học vật lí phù hợp với trình độ nhận thức và tâm, sinh lý lứa tuổi của học sinh, có tính đến điều kiện kinh tế và xã hội Việt Nam. Thiết kế chương trình môn Vật lí chú trọng vào bản chất, ý nghĩa vật lí của các đối tượng, đề cao tính thực tiễn; tránh khuynh hướng thiên về toán học; tạo điều kiện để giáo viên giúp học sinh phát triển tư duy khoa học dưới góc độ vật lí, 5 khơi gợi sự ham thích ở học sinh, tăng cường khả năng vận dụng tri thức vào thực tiễn. Ở mỗi chủ đề nội dung kiến thức được sắp xếp từ trực quan đến trừu tượng, từ đơn giản đến phức tạp, bước đầu tiếp cận với một số nội dung hiện đại.
Thí nghiệm, thực hành đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành khái niệm, quy luật, định luật vật lí. Bên cạnh việc sử dụng các mô hình vật lí và toán học còn chú trọng đến việc hình thành năng lực tìm tòi khám phá các thuộc tính của sự vật, hiện tượng vật lí thông qua các thí nghiệm, thực hành. Chương trình môn Vật lí coi trọng việc rèn luyện cho học sinh kỹ năng vận dụng tri thức vật lí vào việc tìm hiểu và giải quyết ở mức độ nhất định một số vấn đề của thực tiễn, đáp ứng đòi hỏi của cuộc sống; vừa bảo đảm phát triển năng lực trên nền tảng những năng lực chung và năng lực vật lí đã hình thành ở giai đoạn giáo dục cơ bản, vừa đáp ứng yêu cầu định hướng vào một số ngành nghề cụ thể. Trong các chuyên đề này; một số có tác dụng mở rộng, nâng cao kiến thức và năng lực đáp ứng yêu cầu phân hóa ở cấp trung học phổ thông; một số nhằm tăng cường hoạt động thực hành, vận dụng thực tế, giúp học sinh phát triển tình yêu, sự say mê, ham thích tìm hiểu khoa học, định hướng nghề nghiệp.
Các phương pháp dạy học của môn Vật lí cần chú ý tới việc phát huy tính tích cực, chủ động và sáng tạo của học sinh, nhằm hình thành năng lực vật lí và góp phần bồi dưỡng các phẩm chất và năng lực chung được quy định trong Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể. Nội dung, hình thức và phương pháp kiểm tra đánh giá theo định hướng phát triển năng lực học sinh, chương trình môn Vật lí chú trọng đánh giá các thành phần của năng lực vật lí. Bên cạnh đánh giá kiến thức còn cần đánh giá khả năng đề xuất các phương án thí nghiệm và các kỹ năng thực hành vật lí qua các sản phẩm thực hành của học sinh (ví dụ sản phẩm của các dự án học tập) cũng như các đánh giá mang tính tích hợp (ví dụ STEM). 6 Chương trình môn Vật lí có cấu trúc nội dung và các mục tiêu cần đạt về cơ bản là giống nhau đối với tất cả các vùng, miền.
Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện giáo viên có thể chủ động tổ chức cho học sinh hoạt động trải nghiệm và thực hành một số nội dung mang sắc thái riêng của địa phương mình. Đối với các vùng còn khó khăn, có thể thực hiện một số yêu cầu cần đạt ở mức độ đơn giản hơn. Đặc điểm về hoạt động học tập và sự phát triển trí tuệ của học sinh Trung học phổ thông 1.1 Đặc điểm hoạt động học tập lứa tuổi học sinh Trung học phổ thông Hoạt động học tập là hoạt động đặc thù của con người, với mục đích tự giác. Tuy vậy, mỗi giai đoạn của hoạt động học tập có những đặc điểm riêng, khác nhau cả về tính chất và nội dung.
Đối với học sinh THPT, hoạt động học tập đòi hỏi cao về tính năng động, tính độc lập với mục đích tiếp tục học tập lên cao hay chọn nghề vào đời. Đồng thời cũng đòi hỏi muôn nắm được chương trình học một cách sâu sắc thì cần phải phát triển tư duy lý luận, khả năng trừu tượng, khái quát, nhận thức, phát triển. Học sinh ở tuổi này đã có nhiều kinh nghiệm sống hơn, đã ý thức được vị trí, vai trò của mình. Do đó, ý thức học tập tự giác ngày càng được phát triển.
Thái độ của các em đối với các môn học trở nên có chọn lựa hơn, tính phân hoá trong hoạt động học tập thể hiện rõ hơn, cao hơn, do xu hướng chọn nghề, hứng thú học tâp gắn liền với khuynh hướng nghề nghiệp. Các em đã xác định được cho mình hứng thú ổn đinh đối với một môn học nào dó, hoặc một lĩnh vực tri thức nhất định. Húng thú này thường liên quan đến việc chọn một nghề nhất định của học sinh. Hơn nữa, hứng thú nhận thức ở tuổi học sinh Trung học phổ thông mang tính chất rộng rãi, sâu và bền vững hơn học sinh Trung học cơ sở.
Tuy vây, thái dộ học tập ở nhiều em còn có nhược điểm là một mặt, các em rất tích cực học một số môn mà các em cho là quan trọng đối với nghề mình đã chọn, mặt khác các em lại xao nhãng các môn học khác hoặc chỉ học để đạt được điểm 7 trung bình (học lệch). Do dó, giáo viên cần giúp các em hiểu được ý nghĩa và chức năng giáo dục cơ bản, toàn diện, tạo nên tảng vững chắc hình thành nhân sinh quan, thế giới quan khoa học cho các em trong bậc học phổ thông. Sự phát triển trí tuệ của học sinh Trung học phổ thông Ở học sinh THPT, tính chủ động được thể hiện ở tất cả các quá trình nhận thức. Quá trình quan sát trở nên có mục đích, có hệ thống và toàn diện hơn và đã chịu sự điều khiển của hệ thống tín hiệu thứ hai nhiều hơn và không tách khỏi tư duy ngôn ngữ.
Tuy nhiên, quan sát của các em cũng cần có sự chỉ đạo, định hướng của giáo viên. Giáo viên cần định hướng quan sát của các em vào một nhiệm vụ nhất đinh, không vội vàng kêt luận khi chưa tích luỹ đây đủ các thông tin của sự vật hiện tương. Ở học sinh THPT, ghi nhớ có chủ định giữ vai trò chủ đạo trong hoạt động trí tụê, đồng thời ghi nhớ logic trừu tượng, ghi nhớ ý nghĩa ngày một tăng rõ rệt (các em sử dụng tốt hơn các phương pháp ghi nhớ, tóm tắt ý chính, so sánh, đối chiếu. Đặc biệt, các em đã biết phân hoá trong ghi nhớ, phân biệt tài liệu nào cần nhớ từng chữ, tài liệu nào chỉ cần hiểu mà không cần nhớ.
Do cấu trúc của não phức tạp và chức năng của não phát triển, do sự phát triển của các quá trình nhận thức nói chung, do ảnh hưởng của những hoạt động học tập mà hoạt động tư duy của học sinh Trung học phổ thông có thay đổi quan trọng. Các em phát triển mạnh tư duy hình thức, đã có khả năng tư duy lý luận, tư duy trừu tượng một cách độc lập sáng tạo trong những tình huống quen thuộc hoặc ít nhiều mới lạ. Tư duy của các em nhất quán hơn, chặt chẽ hơn và có căn cứ hơn, có thể sử dụng vật liệu là những khái niệm khoa học, tri thức dưới dạng thuật ngữ, mệnh đề để tư duy thoát ly với vật chất. Sự phát triển mạnh của tư duy lý luận liên quan chặt chẽ đến tư duy sáng tạo.
Ở học sinh THPT, đã có khả năng khái quát, có thể tự mình phát hiện ra cái mới, cách thức giải quyết các vấn đề. Các em biết đánh giá các bạn thông 8 minh trong lớp không dựa vào điểm số mà dựa vào cách thức giải quyết các vấn đề học tập: giải bài tập, phương pháp tư duy. Các em có hướng đánh giá cao các bạn thông minh và những thầy cô có phương pháp giảng dạy tích cực, tôn trọng những suy nghĩ độc lập của học sinh. Ở các em, tư duy phê phán bước đầu hình thành.
Các em bước đầu biết đánh giá và tự đánh giá nhiều mối quan hệ, những sự vật, hiện tượng xung quanh.1 Khái niệm năng lực Khái niệm năng lực (competency) có nguồn gốc tiếng La tinh “competentia”. Ngày nay khái niệm năng lực được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau. Năng lực được hiểu như sự thành thạo, khả năng thực hiện của cá nhân đối với một công việc. Khái niệm năng lực được dùng ở đây là đối tượng của tâm lý, giáo dục học.
Năng lực là một thuộc tính tâm lý phức hợp, là điểm hội tụ của nhiều yếu tố như tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, kinh nghiệm, sự sẵn sàng hành động và trách nhiệm .