CHƯƠNG I TỔNG QUAN HỆ THỐNG LÁI 1. Công dụng, phân loại và yêu cầu 1. Công dụng Hệ thống lái của ô tô dùng để thay đổi hướng chuyển động của ô tô nhờ quay vòng các bánh xe dẫn hướng cũng như để giữ phương chuyển động thẳng hay NGUYỄN TƯỜNG HƯNG – Ô TÔ VÀ XE CHUYÊN DỤNG K55 4 ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP THIẾT KẾ HỆ THỐNG LÁI XE TẢI chuyển động cong của ô tô khi cần thiết. Việc điều khiển hướng chuyển động của xe được thực hiện như sau: vành lái tiếp nhận lực tác động của người lái và truyền vào hệ thống lái, trục lái truyền mô men từ vô lăng tới cơ cấu lái, cơ cấu lái tăng mô men truyền từ vành lái tới các thanh dẫn động lái, các thanh dẫn động lái truyền chuyển động từ cơ cấu lái đến các bánh xe dẫn hướng.
Kết cấu lái phụ thuộc vào cơ cấu chung của xe và của từng chủng loại xe. Để quay vòng được thì người lái cần phải tác dụng vào vô lăng một lực. Đồng thời cần có một phản lực sinh ra từ mặt đường lên mặt vuông góc với bánh xe. Để quay vòng đúng thì các bánh xe dẫn hướng phải quay quanh một tâm quay tức thời khi quay vòng.
Các trạng thái quay vòng của xe Sự chuyển động và thay đổi hướng chuyển động của xe trên đường là quá trình phức tạp. Khi xe chuyển động trên đường vòng với tốc độ thấp thì ứng với mỗi vị trí góc quay của vành tay lái nhất định v1 xe sẽ quay vòng với một bán kính quay vòng R0 tương ứng. Đây có thể coi là trạng thái quay vòng tĩnh (quay vòng đủ). Trong thực tế xe thường chuyển động ở tốc độ lớn, do vậy quá trình quay vòng là động, trạng thái quay vòng đủ ít xảy ra mà thường gặp là trạng thái quay vòng thiếu và quay vòng thừa xảy ra trên cơ sở của việc thay đổi tốc độ chuyển động, sự đàn hồi của lốp và hệ thống treo.
Khi quay vòng thiếu, để thực hiện quay vòng xe theo bán kính R 0 người lái phải tăng góc quay vành lái một lượng δ v1. Khi quay vòng thừa, để thực hiện quay vòng xe theo bán kính R0 người lái phải giảm góc quay vành lái một lượng ∂v1. Quay vòng thừa và quay vòng thiếu là những trạng thái quay vòng nguy hiểm, làm mất tính ổn định và điều khiển của xe vì chúng gia tăng lực ly tâm (vận tốc quay vòng của xe tăng kéo theo lực ly tâm khi quay vòng tăng). Ở những trạng thái này yêu cầu người lái phải có kinh nghiệm xử lý tốt.
Vấn đề chất tải, độ đàn hồi của lốp cũng có ảnh hưởng tới tính năng quay vòng và tính an toàn chuyển động của xe, đặc biệt là những xe có vận tốc lớn. Rqv Ro Tr¹ ng th¸ i qua y vßng thiª u: Rqv>Ro NGUYỄN TƯỜNG HƯNG – OÔ TÔ VÀ XE CHUYÊN DỤNG K55 5 O1 ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP THIẾT KẾ HỆ THỐNG LÁI XE TẢI R qv Ro Tr¹ ng th¸ i qua y vßng thõa : Rqv<Ro O1 O Hình 1: Các trạng thái quay vòng của xe 1. Phân loại hệ thống lái Có nhiều cách để phân loại hệ thống lái ô tô: 1. Phân loại theo phương pháp chuyển hướng + Chuyển hướng hai bánh xe ở cầu trước (2WS); + Chuyển hướng tất cả các bánh xe (4WS).
Phân loại hệ thống lái theo đặc tính truyền lực + Hệ thống lái cơ khí; + Hệ thống lái cơ khí có trợ lực bằng thủy lực; + Hệ thống lái trợ lực bằng khí nén hoặc chân không; + Hệ thống lái trợ lực điện. Phân loại theo kết cấu của cơ cấu lái + Cơ cấu lái kiểu trục vít glôbôit – con lăn; + Cơ cấu lái kiểu trục vít – ê cubi – thanh răng- cung răng; + Cơ cấu lái kiểu bánh răng – thanh răng; + Cơ cấu lái kiểu trục vít- cung răng. Ngoài ra còn có cơ cấu lái: trục vít – chốt quay, bánh răng- cung răng… 1. Phân loại theo cách bố trí vành lái + Bố trí vành lái bên trái ( theo luật đi đường bên phải); + Bố trí vành lái bên phải (theo luật đi đường bên trái).
NGUYỄN TƯỜNG HƯNG – Ô TÔ VÀ XE CHUYÊN DỤNG K55 6 ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP THIẾT KẾ HỆ THỐNG LÁI XE TẢI 1. Yêu cầu của hệ thống lái ô tô Một trong các hệ thống quyết định đến tính an toàn và ổn định chuyển động của ô tô là hệ thống lái. Theo đó hệ thống lái cần đảm bảo các yêu cầu sau: Đảm bảo tính năng vận hành cao của ô tô có nghĩa là khả năng quay vòng nhanh và ngặt trong một thời gian rất ngắn trên một diện tích rất bé; Lực tác dụng lên vành lái nhẹ, vành lái nằm ở vị trí tiện lợi đối với người lái; Đảm bảo được động học quay vòng đúng để các bánh xe không bị trượt lết khi quay vòng; Hệ thống trợ lực phải có tính tùy động đảm bảo phối hợp chặt chẽ giữa sự tác động của hệ thống lái và sự quay vòng của bánh xe dẫn hướng; Tránh va đập truyền ngược từ bánh xe lên vành lái; Cơ cấu lái phải được đặt ở phần được treo để kết cấu hệ thống treo trước không ảnh hưởng đến động học cơ cấu lái; Giữ chuyển động thẳng ổ định; Hệ thống lái phải được bố trí thuận tiện trong việc bảo dưỡng và sửa chữa. Các bộ phận hợp thành hệ thống lái ô tô 9 8 7 B A 6 3 5 2 4 1 Hình 2: Sơ đồ tổng quát hệ thống lái.
Trụ xoay đứng 2. Vành lái Vành lái có dạng vành tròn. Lực của người lái tác dụng lên vành lái tạo ra mô men quay để hệ thống lái làm việc. Mô men tạo ra trên vành lái là tích số của lực người lái trên vành tay lái với bán kính của vành lái.rv1 NGUYỄN TƯỜNG HƯNG – Ô TÔ VÀ XE CHUYÊN DỤNG K55 7 ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP THIẾT KẾ HỆ THỐNG LÁI XE TẢI Trong đó: Mv1: mô men vành lái P1: lực mà người lái tạo ra trên vành lái rv1: bán kính vành lái.
Vành lái của bất kỳ loại ô tô nào cũng có độ rơ nhất định, với xe con không vượt quá 80. Trục lái Trục lái có nhiệm vụ truyền mô men lái xuống cơ cấu lái. Trục lái gồm có trục lái chính có thể truyền chuyển động quay của vô lăng xuống cơ cấu lái và ống trục lái để cố định trục lái vào thân xe. Trục lái kết hợp với một cơ cấu hấp thụ va đập.
Cơ cấu này hấp thụ lực dọc trục tác dụng lên người lái khi có va đập mạnh hoặc khi tai nạn xảy ra. Trục lái thường có hai loại: Loại trục lái có thể thay đổi được góc nghiêng và loại trục lái không thay đổi được góc nghiêng. Ngoài cơ cấu hấp thụ va đập ở trục lái chính còn có thể có thêm một số cơ cấu điều khiển như: cơ cấu khóa lái để khóa cứng trục lái, cơ cấu nghiêng trục lái để có thể điều chỉnh vị trí vô lăng theo phương thẳng đứng phù hợp với người lái, hệ thống trượt trục lái để có thể điều chỉnh vị trí vô lăng theo phương thẳng đứng phù hợp với người lái, hệ thống trượt trục lái để có thể điều chỉnh được chiều dài của trục lái và đạt được vị trí ngồi lái tốt nhất cho người lái. Cơ cấu lái Cơ cấu lái là bộ giảm tốc đảm bảo tăng mô men tác động của người lái đến các bánh xe dẫn hướng.
Tỷ số truyền của cơ cấu lái thường bằng 18 đến 20 đối với xe con và bằng từ 21 đến 25 đối với xe tải. Các yêu cầu của cơ cấu lái Cơ cấu lái cần phải đảm bảo những yêu cầu sau: Có thể quay được cả hai chiều để đảm bảo chuyển động cần thiết của xe; Có hiệu suất cao để lái nhẹ, trong đó cần có hiệu suất thuận lớn hơn hiệu suất nghịch để các va đập từ mặt đường được giữ lại phần lớn ở cơ cấu lái; Đảm bảo thay đổi trị số của tỷ số truyền khi cần thiết; Đơn giản trong việc điều chỉnh khoảng hở ăn khớp của cơ cấu lái; Độ rơ của cơ cấu lái là nhỏ nhất; Đảm bảo kết cấu đơn giản nhất, giá thấp nhất và tuổi thọ cao; Chiếm ít không gian và dễ dàng tháo lắp. Sự đàn hồi của hệ thống lái có ảnh hưởng tới sự truyền các va đập từ mặt đường lên vô lăng. Độ đàn hồi càng lớn thì sự va đập truyền lên vô lăng càng ít, nhưng nếu độ đàn hồi lớn quá sẽ ảnh hưởng đến khả năng chuyển động của xe.
Độ đàn hồi của hệ thống lái được xác định bằng tỷ số góc quay đàn hồi tính trên vành lái NGUYỄN TƯỜNG HƯNG – Ô TÔ VÀ XE CHUYÊN DỤNG K55 8 ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP THIẾT KẾ HỆ THỐNG LÁI XE TẢI vô lăng và mô men đặt trên vành lái. Độ đàn hồi của hệ thống lái phụ thuộc vào độ đàn hồi của các phần tử như cơ cấu lái, các đòn dẫn động. Tỷ số truyền của cơ cấu lái Tỷ số truyền của cơ cấu lái i c là tỷ số giữa góc quay của bánh lái và góc quay của đòn quay đứng. d w❑ ic = = dΩ w Ω d , w❑: góc quay của vô lăng dΩ , w Ω:góc quay của trục đòn quay đứng Tỷ số truyền của cơ cấu lái đảm bảo tăng mô men từ vành lái đến các bánh xe dẫn hướng.
Tỷ số truyền lớn sẽ giảm lực đánh lái nhưng người lái phải quay vô lăng nhiều hơn khi quay vòng. Hình 3: Quy luật thay đổi tỷ số truyền ic của cơ cấu lái Vấn đề chọn tỷ số truyền của cơ cấu lái trên cơ sở ứng với 1 đến 2 vòng quay của vô lăng thì bánh xe phải quay được tối đa từ 35 0 đến 450 từ vị trí trung gian trở đi. Quy luật thay đổi tỷ số truyền thích hợp nhất được thể hiện trên giản đồ hình 3. Trong phạm vi góc quay θ ≤ π / 2 thì tỷ số truyền của cơ cấu lái có giá trị cực đại đảm bảo chính xác cao trong khi lái ô tô trên đường thẳng với tốc độ cao và giúp lái nhẹ nhàng vì đa số thời gian lái là quay vành lái một góc nhỏ quanh vị trí trung gian.
Ngoài việc lái nhẹ ra, cơ cấu lái có tỷ số truyền thay đổi theo quy luật như thế sẽ giảm ảnh hưởng của những va đập từ bánh dẫn hướng lên vành lái. Khi θ ≥ π /2 thì ic giảm rất nhanh, ở hai rìa của đồ thị thì i c hầu như không thay đổi.