Thiết Kế Bồn Chứa LPG Dung Tích 800 m3 Tại Trường Đại Học Bà Rịa - Vũng Tàu

Đồ án tốt nghiệp thiết kế bồn chứa LPG dung tích 800 m3, cung cấp giải pháp hiệu quả cho lưu trữ và vận chuyển khí hóa lỏng an toàn.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Đồ án tốt nghiệp

2012

97
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI MỞ ĐẦU

LỜI CẢM ƠN

NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN

NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN PHẢN BIỆN

MỤC LỤC

DANH MỤC BẢNG

DANH MỤC SƠ ĐỒ

DANH MỤC HÌNH

KÍ HIỆU CỤM TỪ VIẾT TẮT

1. CHƯƠNG I. TỔNG QUAN VỀ CÔNG NGHIỆP DẦU KHÍ Ở VIỆT NAM

1.1. Giới thiệu chung

1.2. Nguồn gốc dầu mỏ và khí

1.2.1. Nguồn gốc khoáng

1.2.2. Nguồn gốc hữu cơ

1.3. Khái niệm, thành phần và phân loại khí thiên nhiên

1.4. Ứng dụng của khí

1.4.1. Khí làm nguyên liệu cho tổng hợp hóa dầu

1.4.2. Khí làm nhiên liệu đốt

1.5. Tổng quan về thị trường khí Việt Nam

1.6. Chế biến và sử dụng khí tự nhiên và khí đồng hành ở Việt Nam

1.7. Nhu cầu sử dụng khí ở Việt Nam

1.8. Giới thiệu về LPG

1.8.1. Khái niệm về LPG

1.8.2. Thành phần của LPG

1.8.3. Các tính chất hoá lý của LPG

1.8.3.1. Tỷ trọng
1.8.3.2. Tỷ lệ không khí khi đốt cháy LPG
1.8.3.3. Hệ số giản nở khối
1.8.3.4. Điểm bắt lửa
1.8.3.5. Ẩn nhiệt hoá hơi
1.8.3.6. Nhiệt lượng cháy
1.8.3.7. Giới hạn cháy nổ
1.8.3.8. Trị số octan và độ nhớt

1.8.4. Chỉ tiêu chất lượng LPG thương phẩm

1.9. Các ứng dụng quan trọng của LPG

1.10. So sánh tính năng của LPG với các loại nhiên liệu khác

1.11. Thị trường LPG Việt Nam

1.11.1. Nguồn cung LPG

1.11.2. Nhu cầu LPG

1.12. Công nghệ sản xuất LPG

1.13. Công nghệ sản xuất LPG tại nhà máy xử lý khí Dinh Cố

1.13.1. Sơ đồ công nghệ chế độ MGPP

1.13.2. Quy trình hoạt động của chế độ MGPP

2. CHƯƠNG II. TỔNG QUAN VỀ BỒN CHỨA DẦU KHÍ

2.1. Khái niệm và phân loại bồn chứa

2.1.1. Khái niệm về bồn chứa

2.1.2. Phân loại bồn chứa

2.1.2.1. Bồn chứa trụ đứng áp lực thấp
2.1.2.2. Bồn chứa áp lực cao

2.2. Tình hình xây dựng bồn bể chứa ở nước ta

2.3. Cấu tạo bồn chứa

3. CHƯƠNG III. TÍNH TOÁN THIẾT KẾ BỒN CHỨA LPG DUNG TÍCH CHỨA 800 m3

3.1. Tính toán bồn chứa LPG

3.1.1. Lý thuyết tính toán

3.1.1.1. Nhiệt độ làm việc, nhiệt độ tính toán
3.1.1.2. Áp suất làm việc, áp suất tính toán
3.1.1.3. Ứng suất cho phép
3.1.1.4. Hệ số hiệu chỉnh
3.1.1.5. Hệ số bền mối hàn
3.1.1.6. Hệ số bổ sung bề dày tính toán

3.1.2. Lựa chọn bồn và thông số tính toán

3.1.2.1. Dung tích bồn chứa
3.1.2.2. Lựa chọn phương án thiết kế bồn áp lực
3.1.2.3. Các thông số thiết kế của bồn
3.1.2.4. Chọn vật liệu chế tạo
3.1.2.5. Tính bề dày thành bồn chịu áp lực trong
3.1.2.6. Lựa chọn phương án hàn đối với bồn
3.1.2.7. Tính ứng suất cho phép và áp suất khi bồn chứa nhiên liệu
3.1.2.8. Tính chiều dày thực của thân bồn
3.1.2.9. Tính chiều dày đáy bồn chịu áp suất trong
3.1.2.10. Tính điều kiện khoét lỗ trên thân bồn chứa

3.1.3. Chọn mặt bích

3.1.4. Cửa người

3.1.5. Khối lượng bồn chứa

3.1.5.1. Khối lượng phần LPG chứa trong bình
3.1.5.2. Khối lượng toàn bộ bồn chứa

3.1.6. Chân đỡ thiết bị

3.1.7. Chọn thiết bị phụ

3.1.7.1. Lựa chọn máy nén
3.1.7.2. Lựa chọn van
3.1.7.3. Van an toàn
3.1.7.4. Thiết bị đo mức chất lỏng
3.1.7.4.1. Phao chiếm chỗ
3.1.7.4.2. Đầu tiếp xúc trực tiếp
3.1.7.4.3. Dụng cụ đo dùng áp suất thủy tĩnh
3.1.7.5. Thiết bị đo áp suất
3.1.7.6. Các thiết bị hỗ trợ khác
3.1.7.6.1. Hệ thống làm mát
3.1.7.6.2. Hệ thống chống tĩnh điện
3.1.7.6.3. Thiết bị phát hiện rò rỉ
3.1.7.6.4. Hệ thống phòng cháy chữa cháy

4. CHƯƠNG IV. NHU CẦU ĐIỆN - NƯỚC

5. CHƯƠNG V. TÍNH KINH TẾ

5.1. Mục đích và ý nghĩa của tính toán kinh tế

5.2. Chi phí trực tiếp

5.2.1. Chi phí nguyên vật liệu (A1 )

5.2.2. Chi phí các phụ kiện (B1)

5.2.3. Các chi phí khác (C1)

5.3. Chi phí chung (C)

5.4. Thu nhập chịu thuế tính trước (TL)

5.5. Thuế giá trị gia tăng đầu ra (VAT)

6. CHƯƠNG VI. CHỐNG ĂN MÒN VÀ BẢO DƯỠNG BỒN CHỨA

6.1. Khảo sát điện trở suất của đất

6.2. Lớp bọc chống ăn mòn

6.3. Bảo vệ đường ống bằng dòng áp ngoài

6.4. Bảo vệ đường ống bồn chứa bằng anot hy sinh (protector)

6.4.1. Nguyên tắc bảo vệ của phương pháp

6.4.2. Vật liệu chế tạo anot hi sinh (protector)

6.5. Bảo dưỡng cấu kiện thiết bị

6.5.1. Giới thiệu chung

6.5.2. Các loại hình bảo dưỡng cấu kiện thiết bị

6.5.3. Các phương pháp kiểm tra áp dụng

7. CHƯƠNG VII. AN TOÀN LAO ĐỘNG VÀ PHÒNG CHỐNG CHÁY NỔ

7.1. Đặc điểm chung của hệ thống bồn chứa

7.2. Các sự cố nguy hiểm trong khu vực bồn chứa

7.3. Các sự cố nguy hiểm trong tàng trữ và vận chuyển dẫn đến sự cháy nổ

7.4. Sự cố đối với bồn bể chứa

7.5. Yêu cầu an toàn trong tàng chứa và vận chuyển

7.6. Phương pháp chống cháy cho các thiết bị và bồn chứa

7.7. Hoạt động...

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Thiết Kế Bồn Chứa LPG 800 m3

Thiết kế bồn chứa LPG 800 m3 tại Trường Đại Học Bà Rịa - Vũng Tàu là một dự án quan trọng trong ngành công nghiệp dầu khí. Bồn chứa LPG không chỉ đáp ứng nhu cầu lưu trữ mà còn đảm bảo an toàn trong quá trình vận chuyển và sử dụng. Việc thiết kế này cần phải tuân thủ các tiêu chuẩn kỹ thuật và an toàn nghiêm ngặt.

1.1. Khái Niệm Về Bồn Chứa LPG

Bồn chứa LPG là thiết bị lưu trữ khí hóa lỏng, có dung tích lớn, thường được sử dụng trong các nhà máy chế biến và phân phối khí. Bồn chứa này cần được thiết kế để chịu được áp lực cao và đảm bảo an toàn cho người sử dụng.

1.2. Tầm Quan Trọng Của Bồn Chứa LPG

Bồn chứa LPG đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp năng lượng cho nhiều ngành công nghiệp. Việc thiết kế bồn chứa hiệu quả giúp tiết kiệm chi phí và nâng cao hiệu suất sử dụng năng lượng.

II. Thách Thức Trong Thiết Kế Bồn Chứa LPG 800 m3

Thiết kế bồn chứa LPG 800 m3 gặp nhiều thách thức, từ việc lựa chọn vật liệu đến đảm bảo an toàn trong quá trình vận hành. Các yếu tố như áp suất, nhiệt độ và khả năng chống ăn mòn cần được xem xét kỹ lưỡng.

2.1. Vấn Đề An Toàn Trong Thiết Kế

An toàn là yếu tố hàng đầu trong thiết kế bồn chứa LPG. Cần phải có các biện pháp phòng ngừa cháy nổ và rò rỉ khí để bảo vệ người lao động và môi trường.

2.2. Lựa Chọn Vật Liệu Phù Hợp

Việc lựa chọn vật liệu chế tạo bồn chứa là rất quan trọng. Vật liệu phải có khả năng chịu áp lực và chống ăn mòn tốt để đảm bảo tuổi thọ của bồn chứa.

III. Phương Pháp Thiết Kế Bồn Chứa LPG 800 m3

Phương pháp thiết kế bồn chứa LPG 800 m3 bao gồm nhiều bước từ tính toán kỹ thuật đến lựa chọn thiết bị phụ trợ. Mỗi bước đều cần được thực hiện cẩn thận để đảm bảo hiệu quả và an toàn.

3.1. Tính Toán Kỹ Thuật Bồn Chứa

Tính toán kỹ thuật là bước quan trọng trong thiết kế bồn chứa. Các thông số như áp suất làm việc, nhiệt độ và dung tích cần được xác định chính xác để đảm bảo bồn chứa hoạt động hiệu quả.

3.2. Lựa Chọn Thiết Bị Phụ Trợ

Thiết bị phụ trợ như van an toàn, thiết bị đo mức và hệ thống phòng cháy chữa cháy cần được lựa chọn kỹ lưỡng để đảm bảo an toàn cho bồn chứa LPG.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn Của Bồn Chứa LPG 800 m3

Bồn chứa LPG 800 m3 có nhiều ứng dụng trong ngành công nghiệp và đời sống. Việc sử dụng bồn chứa này giúp tối ưu hóa quy trình sản xuất và cung cấp năng lượng cho các hoạt động hàng ngày.

4.1. Ứng Dụng Trong Ngành Công Nghiệp

Trong ngành công nghiệp, bồn chứa LPG được sử dụng để cung cấp năng lượng cho các quy trình sản xuất. Điều này giúp tiết kiệm chi phí và nâng cao hiệu suất làm việc.

4.2. Ứng Dụng Trong Đời Sống Hàng Ngày

Bồn chứa LPG cũng được sử dụng trong các hộ gia đình để cung cấp năng lượng cho bếp gas và các thiết bị khác. Việc sử dụng LPG giúp tiết kiệm chi phí và bảo vệ môi trường.

V. Kết Luận Về Thiết Kế Bồn Chứa LPG 800 m3

Thiết kế bồn chứa LPG 800 m3 tại Trường Đại Học Bà Rịa - Vũng Tàu không chỉ đáp ứng nhu cầu lưu trữ mà còn đảm bảo an toàn và hiệu quả trong sử dụng. Dự án này có tiềm năng lớn trong việc phát triển ngành công nghiệp dầu khí tại Việt Nam.

5.1. Tương Lai Của Ngành Công Nghiệp LPG

Ngành công nghiệp LPG tại Việt Nam đang trên đà phát triển mạnh mẽ. Việc thiết kế bồn chứa hiệu quả sẽ góp phần thúc đẩy sự phát triển này.

5.2. Đề Xuất Nghiên Cứu Tiếp Theo

Cần tiếp tục nghiên cứu và phát triển các công nghệ mới trong thiết kế bồn chứa LPG để nâng cao hiệu quả và an toàn trong sử dụng.

10/07/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ CÔNG NGHIỆP DẦU KHÍ Ở VIỆT NAM 1. GIỚI THIỆU CHUNG 1. Nguồn gốc dầu mỏ và khí Dầu mỏ và khí là những khoáng vật phong phú nhất trong tự nhiên, chúng có mặt ở nhiều nơi trong lòng đất. Để giúp cho việc tìm kiếm các khu vực chứa dầu khí, thì nghiên cứu nguồn gốc, xuất xứ của dầu khí là rất quan trọng.

Có rất nhiều ý kiến tranh luận về quá trình hình thành các chất hydrocacbon trong dầu khí, nhưng chủ yếu là hai giả thuyết: giả thuyết về nguồn gốc vô cơ (gọi là nguồn gốc khoáng) và nguồn gốc hữu cơ của dầu mỏ. Nguồn gốc khoáng Theo giả thuyết này, trong lòng Trái đất có chứa các cacbua kim loại như Al4C3, CaC2. Các chất này bị phân hủy bởi nước để tạo ra CH4 và C2H2: Al4C3 + 12 H2O 4 Al(OH)3 + 3 CH4 CaC2 + 2 H2O Ca(OH)2 + C2H2 Các chất khởi đầu đó (CH4 và C2H2) qua quá trình biến đổi dưới tác dụng của nhiệt độ, áp suất cao trong lòng đất và xúc tác là các khoáng sét, tạo thành những loại hydrocacbon có trong dầu khí. Để chứng minh điều đó, năm 1866, Berthelot đã tổng hợp được các hydrocacbon thơm từ axetylen ở nhiệt độ cao với sự có mặt của xúc tác.

Năm 1901, Sabatier và Sendereus thực hiện phản ứng hydro hóa axetylen trên xúc tác niken và sắt ở nhiệt độ trong khoảng 200 đến 300oC, đã thu được một loạt các hydrocacbon tương ứng như trong thành phần của dầu. Cùng với hàng loạt các thí nghiệm như trên, giả thuyết về nguồn gốc vô cơ của dầu mỏ đã được chấp nhận trong một thời gian khá dài. Sau này, khi trình độ khoa học và kỹ thuật ngày càng phát triển thì người ta bắt đầu hoài nghi về luận điểm trên vì: - Đã phân tích được (bằng các phương pháp hiện đại) trong dầu thô có chứa các clorofin có nguồn gốc từ động vật. - Trong vỏ quả đất, hàm lượng cacbua kim loại là không đáng kể.

- Các hydrocacbon thường gặp trong các lớp trầm tích, tại đó nhiệt độ ít khi vượt quá 150 ÷ 200oC (vì áp suất rất cao), nên không đủ nhiệt độ cần thiết cho phản ứng tổng hợp xảy ra. Chuyên ngành Hóa dầu 1 Khoa Hóa học và Công nghệ thực phẩm Đồ án tốt nghiệp đại học-Khóa 2008 – 2012 Trường ĐHBR-VT Chính vì vậy mà giả thuyết nguồn gốc vô cơ ngày càng phai mờ do có ít căn cứ. Nguồn gốc hữu cơ Đó là giả thuyết về sự hình thành dầu mỏ từ các vật liệu hữu cơ ban đầu. Những vật liệu đó chính là xác động thực vật biển, hoặc trên cạn nhưng bị các dòng song cuốn trôi ra biển, qua thời gian dài (hàng triệu năm) được lắng đọng xuống đáy biển.

Ở trong nước biển có rất nhiều các loại vi khuẩn hiếu khí và yếm khí, cho nên khi các động thực vật bị chết, lập tức chúng bị phân hủy. Những phần nào dễ bị phân hủy (như các chất albumin, các hydratcacbon) thì bị vi khuẩn tấn công trước tạo thành các chất dễ tan trong nước hoặc khí bay đi, các chất này sẽ không tạo nên dầu khí. Ngược lại, các chất khó bị pân hủy (như các protein, chất béo, rượu cao, sáp, dầu, nhựa) sẽ dần lắng đọng tạo nên lớp trầm tích dưới đáy biển; đây chính là các vật liệu hữu cơ đầu tiên của dầu khí. Các chất này qua hàng triệu năm biến đổi sẽ tạo thành các hydrocacbon ban đầu: RCOOR’ + H2O RCOOH + R’OH RCOOH RH + CO2 RCH2OH R’– CH=CH2 R’– CH=CH2 R’– CH2 – CH3 Theo tác giả Petrov, các axit béo của thực vật thường là các axit béo không no, sẽ biến đổi tạo ra γ-lacton, sau đó tạo thành naphten hoặc aromat: R – C = C – C – C – OH R–C– C–C–C=O O O γ-lacton O O R’ R’ - H2 O R–C–C– C–C=O , O Các xeton này có thể ngưng tụ tạo thành các hydrocacbon có cấu trúc hỗn hợp, hoặc thành ankyl thơm: Chuyên ngành Hóa dầu 2 Khoa Hóa học và Công nghệ thực phẩm Đồ án tốt nghiệp đại học-Khóa 2008 – 2012 Trường ĐHBR-VT O R -HO R’ 2 - 2H2O O CH2 O R’’ R’ Dựa theo quá trình biến đổi trên, phải có hydro để làm no các olefin, tạo thành prafin.

Và người ta đã đưa ra hai giả thuyết về sự tạo thành H2: - Do tia phóng xạ trong lòng đất mà sinh ra H2. Giả thuyết này ít có tính thuyết phục. - Do các vi khuẩn yếm khí dưới đáy biển, chúng có khả năng làm lên men các chất hữu cơ để tạo thành H2. Tác giả Jobell đã tìm thấy 30 loại vi khuẩn có khả năng lên men các chất hữu cơ tạo H2.

Các vi khuẩn này thường gặp trong nước hồ ao và cả trong lớp trầm tích; đó là nguồn cung cấp H2 cho quá trình khử. Ngoài các yếu tố vi khuẩn, nhiều nhà nghiên cứu còn cho rằng có hàng loạt các yếu tố khác nữa như: nhiệt độ, áp suất, thời gian, sự có mặt của các chất xúc tác (các kim loại như Ni, V, Mo, kháng sét…) trong các lớp trầm tích sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho phản ứng xảy ra. Thuyết nguồn gốc hữu cơ của dầu mỏ cho phép giải thích được nhiều hiện tượng trong thực tế. Chẳng hạn như: dầu mỏ ở các nơi hầu như đều khác nhau, sự khác nhau đó có thể là do vật liệu hữu cơ ban đầu.

Ví dụ, nếu vật liệu hữu cơ ban đầu giàu chất béo thì có thể tạo ra dầu loại paraffinic… Dầu được sinh ra rải rác trong các lớp trầm tích, được gọi là “đá mẹ”. Do áp suất ở đây cao nên chúng bị đẩy ra ngoài và buộc phải di cư đến nơi ở mới qua các tầng “đá chứa” thường có cấu trúc rỗng xốp. Sự di chuyển tiếp tục xảy ra đến khi chúng gặp điều kiện địa hình thuận lợi để có thể ở lại đấy và tích tụ thành mỏ dầu; đó là những cái “bẫy”, dầu có thể vào được mà không ra được, có nghĩa là nơi đó phải có tầng đá chắn hoặc nút muối. Trong quá trình di chuyển, dầu mỏ phải đi qua các tầng đá xốp, có thể sẽ xảy ra sự hấp phụ (giống như sắc ký), các chất có cực (như nhựa, asphanten…) bị hấp phụ và ở lại các lớp đá, kết quả là dầu sẽ nhẹ hơn và sạch hơn.

Nhưng nếu trong quá trình di Chuyên ngành Hóa dầu 3 Khoa Hóa học và Công nghệ thực phẩm Đồ án tốt nghiệp đại học-Khóa 2008 – 2012 Trường ĐHBR-VT chuyển dầu bị tiếp xúc với oxy không khí, chúng có thể bị oxy hóa dẫn đến tạo các hợp chất chứa các nguyên tố dị thể, làm xấu đi chất lượng dầu. Khi dầu tích tụ và nằm trong các mỏ dầu, quá trình biến đổi hầu như ít xảy ra nếu mỏ dầu kín. Trong trường hợp có các khe hở, oxy, nước khí quyển có thể lọt vào, xẽ xảy ra sự biến chất theo chiều hướng xấu đi do phản ứng hóa học (oxy hóa, trùng hợp hóa…). Các hydrocacbon ban đầu của dầu khí thường có phân tử lượng rất lớn (C30 ÷ C40), thậm chí cao hơn.

Các chất hữu cơ này nằm trong lớp trầm tích sẽ chịu nhiều biến đổi hóa học dưới ảnh hưởng của nhiệt độ, áp suất, xúc tác (là khoáng sét). Người ta thấy rằng, cứ lún chìm sâu xuống 30 mét thì nhiệt độ trong lớp trầm tích tăng từ 0,54 đến 1,2 oC; còn áp suất tăng từ 3 đến 7,5 at. Như vậy, ở độ sâu càng lớn, nhiệt độ, áp suất càng tăng và trong các lớp trầm tích tạo dầu khí, nhiệt độ có thể lên tới 100 đến 200oC và áp suất từ 200 đến 1000 at. Ở điều kiện như vậy, các hydrocacbon có phân tử lượng lớn, mạch dài, cấu trúc phức tạp sẽ bị phân hủy nhiệt, tạo thành các chất có phân tử lượng nhỏ hơn, cấu trúc đơn giản hơn, số lượng vòng thơm ít hơn… Thời gian dài cũng là yếu tố thúc đẩy quá trình cracking xảy ra mạnh hơn.

Chính vì vậy, tuổi dầu càng cao, độ lún chìm càng sâu, dầu dược tạo thành càng chứa nhiều hydrocacbon với trọng lượng phân tử càng nhỏ. Sâu hơn nữa có khả năng chuyển hoàn toàn thành khí, trong đó khí metan là bền vững nhất nên hàm lượng của nó rất cao. Cũng chính vì vậy, khi tăng chiều sâu của các giếng khoan thăm dò dầu khí thì xác suất tìm thấy khí thường cao hơn. Tóm lại, về bản chất, dầu và khí đều có cùng một nguồn gốc, và chính là nguồn gốc hữu cơ.

Ở đâu có dầu thì thường tìm thấy khí. Cũng có khi các mỏ khí nằm riêng biệt, có lẽ là do sự “di cư”. Khái niệm, thành phần và phân loại khí thiên nhiên 1. Khái niệm Khí tự nhiên: là khí khai thác trực tiếp từ các mỏ khí dưới lòng đất thành phần chính là metan tới 98%, C2-C4: 1,5-7%, C5+ và các khí khác như: H2S, N, CO2, He … Khí đồng hành: Là khí được tách ra trong quá trình khai thác dầu.

Khí này chứa khoảng 30-80% metan, 10-26% etan, 7-22 propan, 4-7% butan và izobutan, 1-3% C5+. Ngoài ra khí đồng hành còn chứa H2S, CO2, N2 … Chuyên ngành Hóa dầu 4 Khoa Hóa học và Công nghệ thực phẩm Đồ án tốt nghiệp đại học-Khóa 2008 – 2012 Trường ĐHBR-VT Khí ngưng tụ (condensate): thực chất là dạng trung gian giữa dầu mỏ và khí (phần cuối của khí và phần đầu của dầu), bao gồm các hydrocacbon như propan, butan và một số hydrocacbon lỏng khác như pentan, hexan, thậm chí hydrocacbon naphtenic và aromatic đơn giản. Ở điều kiện thường, khí ngưng tụ ở dạng lỏng. Khí ngưng tụ là nguyên liệu quý để sản xuất LPG và sử dụng trong tổng hợp hóa dầu.

Khí từ nhà máy lọc dầu: là khí hình thành trong quá trình ổn định dầu, cracking, luyện cốc… 1. Thành phần Đặc trưng chủ yếu của khí thiên nhiên và khí dầu mỏ bao gồm hai phần: phần hydrocacbon và phi hydrocacbon: a. Các hợp chất hydrocacbon Hàm lượng các cấu tử chủ yếu là khí metan và đồng đẳng của nó như: C2H6, C3H8, n-C4H10, izo-C4H10, ngoài ra còn có một ít hàm lượng các hợp chất C5, C6. Hàm lượng các cấu tử trên thay đổi tùy theo nguồn gốc của khí.

Ví dụ, trong khí tự nhiên chứa chủ yếu CH4, các khí nặng C3 ÷ C4 rất ít; còn trong khí đồng hành, hàm lượng các khí C3 ÷ C4 cao hơn.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ