Chương 1 : GIỚI THIỆU KỸ THUẬT ULTRA-WIDE BAND 1. Tổng quan: Hệ thống truyền thông không dây đã phát triển đáng kể trong những năm vừa qua. Sự bùng nổ tăng trưởng của thị trường truyền thông không dây được dự kiến sẽ tiếp tục trong tương lai, khi nhu cầu về tất cả các loại hình dịch vụ không dây ngày càng tăng. Thế hệ mới của các hệ thống phát thanh không dây, điện thoại di động nhằm mục đích cung cấp dữ liệu linh hoạt (bao gồm cả tốc độ dữ liệu cao, trung bình và thấp) và rất nhiều các ứng dụng (như video, dữ liệu,…) cho người sử dụng các thiết bị truyền thông không dây.
Tuy nhiên, mục tiêu này phải được thực hiện trong hạn chế của các tài nguyên giới hạn sẵn có như phổ tần và công suất. Khi ngày càng nhiều thiết bị không dây, công nghệ trong tương lai sẽ phải đối mặt với phổ lấn át, và cùng song song tồn tại với các thiết bị không dây hiện có sẽ là một vấn đề lớn. Vì vậy, việc xem xét băng thông hạn chế làm sao co thể đáp ứng được nhu cầu dung lượng và tốc độ dữ liệu cao hơn là một nhiệm vụ đầy thách thức, đòi hỏi công nghệ tiên tiến có thể cùng tồn tại với các thiết bị hoạt động ở băng tần số khác nhau. Hơn nữa, các thiết bị di động hiện đang ngày càng trở nên nhỏ gọn hơn.
Để thỏa mãn nhu cầu thu nhỏ các thiết bị di động, anten gắn trên các thiết bị đầu cuối cũng phải được thu nhỏ kích thước. Các anten phẳng, chẳng hạn như anten vi dải (microstrip antenna) và anten mạch in (printed antenna), có các ưu điểm hấp dẫn như kích thước nhỏ và dễ gắn lên các thiết bị đầu cuối, … sẽ là lựa chọn thỏa mãn yêu cầu thiết kế nói trên. Cũng bởi lí do này, kỹ thuật thiết kế anten phẳng băng rộng đã thu hút rất nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu anten. Từ đó, anten siêu băng rộng - (UWB) radio cũng ngày càng trở nên phổ biến và chiếm ưu thế trong việc tạo ra tốc độ xung cao với mức chi phí thấp.
Các nỗ lực nghiên cứu và phát triển UWB được tập trung chuyên sâu hơn sau ban hành phiên bản chuẩn UWB đầu tiên bởi Ủy ban Truyền thông liên bang Mỹ (US Federal Thiết kế anten planar cho hệ thống UWB HVTH: Nguyễn Phú Quí Luận văn cao học Trang 9 CBHD: TS Phan Hồng Phương Communication Commission – US FCC) vào tháng 2 năm 2002 không cần cấp phép trong dải tần từ 3. Phiên bản chính thức này đã mở ra hướng đi nhằm phát triển các sản phẩm UWB thương mại. Các giới hạn nghiêm ngặt về công suất phát UWB được quy định bởi FCC đã xác định các ứng dụng trong tương lai phù hợp với truyền tín hiệu bằng UWB đó là truyền tín hiệu với tốc độ bit cao ở tầm ngắn (IEEE 802.3a), hoặc truyền tín hiệu với tốc độ bit thấp ở tầm trung và tầm xa (IEEE 802. UWB là một hệ thống dưới chuẩn (hay còn được gọi là hệ thống chia sẻ không có giấy phép), cùng tồn tại với các hệ thống băng hẹp khác được cấp phép và không có giấy phép.
Công suất phát của các thiết bị UWB được kiểm soát bởi các cơ quan quản lý (chẳng hạn như Ủy ban Truyền thông Liên bang (FCC) ở Hoa Kỳ) nên hệ thống băng hẹp bị ảnh hưởng từ các tín hiệu UWB chỉ ở mức độ không đáng kể. Do đó, các hệ thống UWB được phép cùng tồn tại với các công nghệ khác chỉ dưới sự kiểm soát công suất nghiêm ngặt. Mặc dù vậy, UWB cung cấp giải pháp hấp dẫn cho các khu vực nhiều thông tin liên lạc không dây, bao gồm cả các mạng không dây cá nhân (WPANs), đo từ xa không dây, trị bệnh từ xa và cảm biến mạng không dây. Với băng thông rộng của nó, UWB có tiềm năng để cung cấp công suất cao hơn nhiều so với các hệ thống băng hẹp hiện nay cho các ứng dụng tầm ngắn.
Theo định nghĩa hiện nay, các công nghệ truyền thông không dây tạo tín hiệu có băng thông rộng hơn 500 Mhz hoặc một băng thông phân đoạn lớn hơn 0.2 được xem là UWB. Những lợi ích của UWB Truyền UWB gần đây đã nhận được sự chú ý đáng kể trong cả học thuật và các ngành công nghiệp cho các ứng dụng truyền thông không dây. Những lợi thế của các hệ thống UWB là rất nhiều. Trước hết, UWB cho phép sử dụng không cần cấp phép của một băng thông rộng như đã đề cập ở trên.
Việc sử dụng dưới chuẩn làm tăng mạnh mẽ hiệu suất Thiết kế anten planar cho hệ thống UWB HVTH: Nguyễn Phú Quí Luận văn cao học Trang 10 CBHD: TS Phan Hồng Phương phổ và mở ra hướng mới cho các ứng dụng không dây, cũng như sự điều chỉnh thay thế dần cho các thiết bị hiện có. UWB cũng cung cấp việc sử dụng phổ tần với độ linh động cao. Trong thực tế, hệ thống này được đặc trưng bởi một loạt các thông số cho phép thiết kế của máy thu phát thích nghi và có thể được sử dụng để tối ưu hóa năng lực hệ thống, đáp ứng các yêu cầu về tốc độ dữ liệu, khoảng cách, công suất, chất lượng dịch vụ và yêu cầu của người dùng. Công nghệ UWB có khả năng cung cấp dữ liệu cao (hàng Gbps) trên phạm vi ngắn (ngắn hơn 1 m).
Tuy nhiên, tốc độ dữ liệu có thể dễ dàng đánh đổi với sự gia tăng cự ly bằng cách thiết kế thu phát phù hợp thích nghi. Tương tự như vậy, tốc độ dữ liệu và cự ly có thể đánh đổi đối với công suất, đặc biệt là tốc độ dữ liệu thấp và các ứng dụng tầm ngắn. Điều quan trọng nhất là cùng một thiết bị có thể được thiết kế để cung cấp dịch vụ cho nhiều ứng dụng cùng với một loạt các yêu cầu mà không cần bổ sung phần cứng. Độ phân giải cao về thời gian của tín hiệu UWB làm cho chống lại fading đa đường.
Do tín hiệu UWB trải trên một dải tần số rất rộng (đến tần số rất thấp), suy hao xuyên vật liệu khá thấp, làm hiệu quả liên kết tốt hơn. Hơn nửa, nhiều thành phần đa đường có thể được quan sát ở bộ thu, vì thế hệ thống có khả năng nhận năng lượng tốt. Ví dụ, các bộ thu dò tìm có thể thực hiện khóa các dội đa đường, chọn lọc năng lượng. Vì thế cải thiện năng lực của hệ thống.
Ngoài ra, độ phân giải cao về thời gian là một lợi thế quan trọng của tín hiệu UWB cho các ứng dụng khác nhau. Trong các hệ thống IR-UWB không cần thiết có bộ chuyển đổi lên/xuống tại các máy thu phát, tạo lợi ích tiềm năng của việc giảm chi phí và kích thước của các thiết bị. Lợi ích khác của UWB bao gồm công suất phát thấp và chống lại việc nghe trộm tốt do tín hiệu UWB có công suất phát thấp nên giống tương tự nhiễu. Ứng dụng UWB xuất hiện cùng với một tiềm năng to lớn về một tập các ứng dụng rộng rãi, hấp dẫn, như thể hiện trong hình 1.1 Thiết kế anten planar cho hệ thống UWB HVTH: Nguyễn Phú Quí Luận văn cao học Trang 11 CBHD: TS Phan Hồng Phương Về cơ bản, các ứng dụng này có thể được chia thành 3 nhóm: Truyền thông và cảm biến Định vị và theo dõi Radar Hình 1.1: Tổng quan về các ứng dụng mà UWB có thể cung cấp.1 Truyền thông và cảm biến Các ứng dụng trong truyền thông tạo ra một số cơ hội thú vị nhất trong thị trường khách hàng.
Khả năng ứng dụng của UWB trong truyền thông là vô cùng rộng lớn, theo đó hệ thống truyền thông có thể được cải thiện, tăng cường,nâng cấp. Các ứng dụng trong truyền thông có thể được chia ra làm hai khu vực - tốc độ dữ liệu thấp và cao. Cả hai đều yêu cầu công suất thấp và dung lượng cao, chúng là các biểu tượng cho chất lượng của UWB. Thiết kế anten planar cho hệ thống UWB HVTH: Nguyễn Phú Quí Luận văn cao học Trang 12 CBHD: TS Phan Hồng Phương 1.1 Tốc độ dữ liệu thấp Các thiết bị tốc độ dữ liệu thấp xung quanh chúng ta trong thế giới công nghệ nhưng chúng thường được nối bởi dây dẫn hoặc cáp.
Chúng ta sử dụng các thiết bị này để nhập dữ liệu vào hoặc lấy dữ liệu từ các máy tính, để phát hiện những kẻ đột nhập vào nhà, và để cho vô vàn mục đích khác. Theo cách thức có hiệu quả, các thiết bị dữ liệu tốc độ thấp có thể là không dây, nhưng giải pháp trên thị trường ngày nay bị ràng buộc bởi nhiễu tầm nhìn thẳng với các thiết bị khác, các vấn đề công suất, ngoài ra các vấn đề khác thì không quan trọng lắm trong việc đạt được một thoả hiệp hoàn hảo. UWB không bị giới hạn bởi tầm nhìn thẳng đột ngột như là ánh sáng hồng ngoại, vì chiều dài sóng lớn khi so sánh và có thể uốn cong hoặc truyền xuyên qua các đối tượng mà không gặp trở ngại gì về kết nối. Nó cũng bị ảnh hưởng bởi các bóng và nhiễu của ánh sáng có liên quan khác nhưng ít hơn trường hợp ánh sáng hồng ngoại.
Vì UWB hoạt động ở mức công suất rất thấp và theo phương thức không liên tục, nhiễu cũng không đáng kể - điều đó có nghĩa là hàng trăm thiết bị có thể hoạt động trong cùng một không gian mà không xâm phạm đến mỗi thiết bị khác. Trước hết chúng ta xét chi tiết hơn ứng dụng đầu tiên mà cũng là ứng dụng quan trọng nhất của UWB, WPAN, một lĩnh vực đang tạo ra cho UWB những lợi thế to lớn trên thị trường thiết bị. Sự nổi lên của môi trường nhà số được cấu thành bởi nhiều thiết bị CE khác nhau (như bộ nghe nhạc, xem video số), các thiết bị di động (như điện thoại tổ ong và PDA), và các thiết bị máy tính cá nhân (như máy tính PC xách tay) sẽ hỗ trợ một lượng lớn các ứng dụng. Các thiết bị này có thể phân chia ra làm 3 loại không hoàn toàn tách biệt (Hình 1.2): PC và Internet Các thiết bị điện tử cho người tiêu dùng (CE) và hệ thống quảng bá Các thiết bị cầm tay và di động Thiết kế anten planar cho hệ thống UWB HVTH: Nguyễn Phú Quí Luận văn cao học Trang 13 CBHD: TS Phan Hồng Phương Các thiết bị này thông thường được đặt trong các phòng khác nhau và được dùng cho nhiều chức năng khác nhau.