mở đầu cho thời kỳ giới Nho sĩ tham giữ quyền bính [23,36]. Từ đó cho đến hết thế kỷ XIV, trong đội ngũ quan lại đã có sự thay đổi đáng kể về nhân sự. Những quý tộc, nhất là quý tộc tôn thất thƣa vắng dần trong bộ máy chính quyền, thay vào đó là tầng lớp quan liêu Nho sĩ… Tuy nhiên, biện pháp trên đây chỉ 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com mang tính chất nhất thời và không giải quyết đƣợc triệt để các mâu thuẫn đang ngày càng trở nên sâu sắc. Dù những thay đổi này chƣa làm biến đổi căn bản tính chất của thiết chế tổ chức nhà nƣớc, nhƣng dù sao đó cũng là bƣớc chuẩn bị cần thiết cho việc xây dựng thiết chế tập quyền ở Việt Nam trong những giai đoạn sau.
Khi Hồ Quý Ly nổi lên nhƣ một nhân vật có quyền lực cao nhất trên chính trƣờng thì nhu cầu cần phải có một cuộc cải cách toàn diện đã trở nên vô cùng bức thiết. Lịch sử đã đặt lên vai Hồ Quý Ly và sau đó là vƣơng triều Hồ hai nhiệm vụ cần tiến hành cùng lúc: củng cố, tăng cƣờng chế độ quân chủ tập quyền và giải quyết các mâu thuẫn kinh tế - xã hội do cuộc khủng hoảng đặt ra. Để khắc phục tình trạng rối loạn chính trị, Hồ Quý Ly thiết lập một vƣơng triều mới. Triều Hồ thành lập cũng đồng thời loại bỏ vị trí chính trị của tầng lớp quý tộc Trần và chuyển dần sang mô hình nhà nƣớc mới.
Nhà Hồ đẩy mạnh giáo dục, khoa cử Nho học, tăng cƣờng công tác tuyển chọn và sử dụng đội ngũ quan liêu mới. Ngay khi lên ngôi, Hồ Quý Ly đã tổ chức thi Thái học sinh, lấy đỗ 20 ngƣời bổ dụng các chức khác nhau. Năm 1404, nhà Hồ định lại thể lệ thi Hƣơng, thi Hội, quy định ba năm mở một khoa thi, năm trƣớc thi Hƣơng năm sau thi Hội. Việc học ở các lộ, phủ, châu cũng đƣợc chấn chỉnh, cùng với việc ban hành chế độ học quan và học điền.
Một đội ngũ đông đảo những ngƣời thuộc tầng lớp quan liêu mới đƣợc bổ sung cho bộ máy chính quyền từ trung ƣơng đến các địa phƣơng. Pháp luật nhà nƣớc đƣợc kiện toàn, đƣờng lối pháp trị ngày càng đƣợc đẩy mạnh. Về các mặt kinh tế - xã hội, những chính sách cải cách cụ thể của nhà Hồ chủ yếu nhằm hạn chế vai trò của tầng lớp quý tộc, duy trì sự tồn tại của chế độ tƣ hữu ruộng đất trong giới hạn cho phép, đồng thời không ngừng tăng cƣờng vai trò kinh tế nhà nƣớc. Chính sách hạn danh điền (năm 1397), hạn nô (1401) một mặt chấp nhận về mặt pháp lý đối với sự tồn tại của những chủ tƣ hữu với mức dƣới 10 mẫu ruộng, đồng thời góp phần củng cố tiềm lực kinh tế nhà nƣớc thông qua việc sung công một số lƣợng không nhỏ ruộng đất và nô tỳ vốn thuộc các địa chủ, nhƣng đồng thời cũng đánh mạnh vào tầng lớp đại quý tộc điền trang.
Thêm vào đó, chính sách phát hành tiền giấy (1396), đánh thuế thuyền buôn (1400), thuế ruộng đất (1402), thuế đinh nam (1402), thống nhất các đơn vị đo lƣờng (1403)… đã tăng nguồn thu nhập cho ngân sách quốc gia, phần nào đấy thể hiện sự quan tâm của nhà nƣớc đối với lợi ích của một bộ phận dân nghèo không có hoặc có ít ruộng đất. Dù còn chƣa hoàn toàn thống nhất khi đánh giá về các chính sách của Hồ Quý Ly, nhƣng các nhà nghiên cứu đều thừa nhận rằng Hồ Quý Ly là một nhà cải cách táo bạo và kiên quyết hiếm có trong lịch sử trung đại Việt Nam. Cải cách của 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com ông đã kết thúc giai đoạn tồn tại của mô hình kinh tế - xã hội cũ, với phƣơng thức cai trị theo lối “thân dân”, chuyển sang hình thức cai trị mang dáng dấp của mô hình “Tập quyền quan liêu”. Trong bối cảnh Đại Việt lúc bấy giờ, việc xây dựng mô hình mới là một đòi hỏi khách quan, đáp ứng những yêu cầu phát triển nội tại của đất nƣớc.
Tiếc rằng, mô hình nhà nƣớc do Hồ Quý Ly xây dựng chƣa thể xác lập đƣợc một cơ sở tồn tại vững chắc và do đó chƣa thể phát huy vai trò của mình thì bị gián đoạn bởi cuộc xâm lƣợc của nhà Minh. Tuy vậy, những tƣ tƣởng cải cách của Hồ Quý Ly cũng nhƣ khuynh hƣớng tập quyền và quan liêu của ông đã đƣợc triều Lê Sơ hiện thực hoá. Giành thắng lợi trong cuộc kháng chiến chống Minh, thiết lập vƣơng triều mới trong ánh hào quang của cuộc chiến tranh giải phóng vĩ đại, triều Lê Sơ có mọi điều kiện thuận lợi để tiếp tục phát triển mô hình nhà nƣớc theo hƣớng tập quyền quan liêu. Năm 1428, Lê Lợi lên ngôi Hoàng đế, lập ra triều Lê.
Bên cạnh những chính sách kinh tế, xã hội nhằm khôi phục đất nƣớc sau những năm tháng chiến tranh, Lê Thái Tổ nhanh chóng bắt tay vào thiết lập một bộ máy chính quyền mới. Về cơ bản, tổ chức nhà nƣớc đầu thời Lê Sơ không khác mấy so với giai đoạn cuối Trần và thời Hồ, nhƣng đội ngũ quan lại giữ những cƣơng vị chủ chốt không còn là những quý tộc vƣơng thất mà thay vào đó là những tƣớng lĩnh có công trong sự nghiệp bình Ngô, một bộ phận những trí thức Nho học và một số quan lại đã từng phục vụ triều Hồ. Để bổ sung cho đội ngũ quan lại, các vị vua đầu triều Lê chủ yếu sử dụng phƣơng thức tập ấm, tiến cử và phần nào là khoa cử. Nho giáo đƣợc đề cao và dần trở thành hệ tƣ tƣởng chính thống của nhà nƣớc.
Sau khi vua Thái Tổ qua đời năm 1433 có nhiều dấu hiệu cho thấy tình hình chính trị, xã hội nhà Lê ngày càng bất ổn. Những vị vua kế nhiệm nhƣ Thái Tông, Nhân Tông lên ngôi khi còn nhỏ tuổi (Thái Tông 10 tuổi, Nhân Tông 2 tuổi). Quyền lực thực tế nằm trong tay các đại thần xuất thân võ tƣớng mà có nhà sử học nƣớc ngoài gọi là nhóm “thiểu số chính trị gốc Thanh Hoá” [80]. Sự biến cung đình diễn ra liên tiếp.
Hàng loạt những “đại thần khai quốc” nhƣ Nguyễn Trãi, Lƣu Nhân Chú, Lê Sát, Lê Ngân, Trịnh Khả… bị sát hại. Số những quan lại thanh liêm và có trình độ không nhiều. Tình trạng quan lại đục khoét tài sản nhà nƣớc, sách nhiễu nhân dân ngày càng phổ biến. Để mô tả khái quát tình hình triều chính rối ren và sự bê bối của đội ngũ quan lại trong những thập niên 30 đến 50 của thế kỷ XV các sử gia thời Lê dẫn bài Quang Thuận Trung hưng ký bình luận rằng: “Nhân Tông mới lên hai tuổi đã sớm nối ngôi vua, Thái hậu Nguyễn Thị là gà mái gáy sớm, Đô đốc 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Lê Khuyển nhƣ thỏ khôn giữ mệnh.
Vua đàn bà mắt quáng buông rèm ngồi chốn thâm khuê, bọn họ ngoại lòng tham, khoác lác hoành hành khắp cõi, kẻ thân yêu nắm quyền vị, nạn hối lộ đƣợc công khai. Việc văn giáo lặng lẽ nhƣ băng hàn, ngƣời hiền từ phải bó cánh. Bậc túc nho nhƣ Lý Tử Tấn, Trình Thuấn Du thì đẩy vào chỗ nhàn, phƣờng dốt đặc ồn ào nhƣ ong đàn nổi dậy, nhƣ chó chuột nhe răng. Tể thần nhƣ Lê Sủng, Lê Sát thì ngu si không phân biệt sáu loại súc vật, Chƣởng binh Lê Điên, Lê Luyện, thì mù tịt, chẳng sao hiểu đƣợc bốn mùa một năm.
Bậc lƣơng thần nhƣ Trịnh Khả, Khắc Phục thì kèn cựa mà giết đi, ngƣời tài sĩ nhƣ Nguyễn Mộng Tuân thì đẩy vào vòng tai hoạ. Oan uổng không chỉ kêu xin, mọi việc thảy đều đổ nát. Văn giai nhƣ Công Soạn tuổi gần tám mƣơi, tể thần nhƣ Lê Ê không biết một chữ. Bọn trẻ không biết nghĩ, làm bậy ngông cuồng, ngƣời già chẳng chết đi, trở thành mối hoạ.
Bán quan mua kiện, ƣa giàu ghét nghèo. Hiền tài là rƣờng cột của triều đình mà sạch không nhƣ quét đất. Văn chƣơng là khí vận của nhà nƣớc mà im ắng tựa cỏ khô. Bọn xiểm nịnh đƣợc tin dùng, kẻ đao bút đƣợc tiến cử…”[23,384-85].
Đã không ít lần, nhà vua ban chiếu răn các quan lại phải giữ khuôn phép, chấn chỉnh lề lối làm việc, song hiệu quả mang lại không đáng kể. Liên tiếp trong các năm 1443, 1445, 1449…, những lần xảy ra thiên tai, hạn hán, mất mùa, nhà vua1 chỉ còn biết than trách tự hỏi: “Có phải do trẫm không biết dốc lòng thành kính để đƣợc hƣởng lộc trời…, không biết ban ân huệ cho khắp muôn dân…, không biết sử dụng nhân tài, những loại đƣợc dùng đều là loại hèn kém mà đến nỗi thể chăng? Có phải do nạn hối lộ công khai, tệ phi tần lộng hành…, các đại thần giúp việc chƣa trọn đạo, tƣớng soái phiên thần không biết yêu thƣơng quân dân, quen thói đục khoét…, hay là quan hình ngục không giữ công bằng, chỉ lo xử nặng, kẻ nào đút lót thì tha, để oán khí bốc lên mà đến nỗi thế chăng?. Thực tế trên đây trở thành gánh nặng đặt lên vai ngƣời kế nhiệm và triều đại của ông - vua Lê Thánh Tông. Hơn lúc nào hết, việc củng cố quyền lực của ngƣời đứng đầu nhà nƣớc, tăng cƣờng sức mạnh và sự trong sạch của đội ngũ quan lại, xây dựng và hoàn thiện thống pháp luật trở thành một yêu cầu bức thiết.
Đó cũng chính là mục tiêu và nội dung của công cuộc cải tổ chính trị thời Lê Thánh Tông. Nhƣ vậy, có thể nói mô hình nhà nƣớc “Tập quyền quan liêu” đã đƣợc manh nha vào cuối thời Trần - Hồ, bắt đầu có hình hài rõ nét ngay từ thời các vua Lê đầu tiên, nhƣng phải đến Lê Thánh Tông mới thực sự hoàn thiện. Có thể coi lệnh “Hiệu 1 Thực tế vua Nhân Tông lúc này còn nhỏ tuổi. Quyền nhiếp chính thuộc về Thái hậu Nguyễn Thị Anh và Thái uý Trịnh Khả.
17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com định quan chế” ban hành năm 1471 nhƣ một cái mốc đánh dấu sự hoàn thiện của mô hình nhà nƣớc Lê Sơ. Đến lúc này, cơ sở kinh tế - xã hội, nền tảng cho sự tồn tại của mô hình ấy cũng đã đƣợc xác lập vững chắc trên cơ sở sự cân bằng giữa sở hữu ruộng đất công, nông dân làng xã với sở hữu tƣ nhân của tầng lớp địa chủ. Cũng vào thời điểm này, nhà nƣớc đã hoàn toàn khẳng định quyền sở hữu tối cao của mình đối với toàn bộ ruộng đất trong cả nƣớc.