CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TTLĐ là thị trường quan trọng trong hệ thống đồng bộ các loại thị trường, do đó TTLĐ là một trong những vấn đề lý luận và thực tiễn thu hút sự quan tâm của các nhà khoa học kinh tế ở nhiều trường phái khác nhau. Để tổng quan các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về TTLĐ trong hội nhập quốc tế là một công việc không hề đơn giản. Trong phần này, tác giả thực hiện tổng quan một số công trình nghiên cứu gần đây và có liên quan đến mục tiêu nghiên cứu của luận án. Tổng quan các nghiên cứu về thị trường lao động ở nước ngoài 1.
Tổng quan các nghiên cứu về thị trường lao động ở các nước trong quá trình chuyển đổi nền kinh tế Từ những năm 1980, bối cảnh thế giới có nhiều thay đổi trong đời sống kinh tế - chính trị và xã hội, các nước XHCN cũ bắt đầu tiến hành quá trình chuyển đổi kinh tế, do đó những nghiên cứu về TTLĐ ở những nước này trong những năm cuối thế kỷ XX, đầu thế kỷ XXI chủ yếu nghiên cứu trong bối cảnh nền kinh tế chuyển đổi. Nghiên cứu của Yao, (2007), Cai, Park, & Zhao, (2008), Ming Lu & Hong Gao, (2009) đã phân tích quá trình cải cách TTLĐ Trung Quốc từ năm 1978. Năm 1978, Trung Quốc bắt đầu quá trình cải cách kinh tế với việc chuyển đổi mô hình kinh tế từ kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường, trong đó, phát triển TTLĐ đã đóng một vai trò cơ bản trong chiến lược phát triển kinh tế của Trung Quốc. Cũng giống như nhiều nước quá độ đi lên xây dựng CNXH, từ chỗ không thừa nhận hàng hóa sức lao động cũng như không thừa nhận sự tồn tại của TTLĐ, quá trình cải cách kinh tế ở Trung Quốc đã dần thừa nhận sức lao động là hàng hóa và thừa nhận sự tồn tại của TTLĐ.
Từ năm 1978, Chính quyền Trung ương, các bộ và các cơ quan lập pháp nước này đã ban hành rất nhiều luật, quy tắc và các văn bản để thúc đẩy sự hình thành của TTLĐ trong các khía cạnh TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com -8- khác nhau, và để điều chỉnh tất cả các vấn đề phát sinh trong quá trình cải cách. Tương ứng, các biện pháp cải cách quan trọng để thiết lập TTLĐ thành thị và nông thôn. Ở khu vực thành thị mở rộng quyền tự chủ cho các doanh nghiệp trong đó bao gồm cả phân phối tiền lương, triển khai hệ thống hợp đồng lao động, tiến hành cổ phần hóa DNNN. Quá trình này đã dẫn đến tái cơ cấu việc làm quyết liệt ở khu vực đô thị, làn sóng sa thải lao động và gây ra tình trạng thất nghiệp.
Hơn 30 triệu người lao động trong DNNN đã bị sa thải vào cuối những năm 1990 dẫn đến tỷ lệ thất nghiệp cao và tỷ lệ tham gia LLLĐ giảm. Để làm giảm các mâu thuẫn, Chính phủ Trung Quốc đã triển khai dự án giải quyết việc làm cho lao động dôi dư từ năm 1998 và đến năm 2002, tình trạng thất nghiệp đã được cải thiện. Hệ thống an sinh xã hội cũng cơ bản được thiết lập vào giai đoạn này như bảo hiểm xã hội (1997), bảo hiểm y tế (1998), bảo hiểm thất nghiệp (1999),… Ở vùng nông thôn, thực hiện hệ thống trách nhiệm gia đình và cung cấp quyền tự chủ sản xuất cho người dân nông thôn; nới lỏng các quy định về việc thành lập hợp tác xã và các doanh nghiệp thuộc sở hữu tư nhân; cho phép người di cư nông thôn đến làm việc trong các khu vực đô thị; nới lỏng các quy định về hộ khẩu. Những cải cách trên TTLĐ đã góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Trung Quốc như nâng cao hiệu quả phân bổ lực LLLĐ nhờ vào việc di chuyển lao động từ nông nghiệp nông thôn sang khu vực phi nông nghiệp.
Giúp giảm chi phí sản xuất và thúc đẩy khả năng cạnh tranh của sản phẩm nhờ có lợi thế về chi phí thấp trong thương mại quốc tế. Mặt khác, quá trình cổ phần hóa DNNN đã giúp nâng cao hiệu quả DNNN và khu vực KTTN phát triển mạnh mẽ với đội ngũ doanh nhân ngày càng tăng (Yao, 2007). Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu của Ming Lu & Hong Gao (2009) cũng cho thấy cải cách TTLĐ ở Trung Quốc đã dẫn đến sự bất bình đẳng về thu nhập. Sự chênh lệch về thu nhập tăng thêm do hậu quả của cải cách TTLĐ có thể gây nguy hiểm cho sự phát triển bền vững nếu không có những điều chỉnh.
Để duy trì sự tăng trưởng kinh tế cao và thúc đẩy bình đẳng thu nhập, Ming Lu & Hong Gao (2009) cho rằng Trung Quốc cần phải điều chỉnh chiến lược cải cách và phát triển. Chiến lược cải cách cần thay đổi mô hình tăng trưởng kinh tế từ phụ thuộc vào chi phí lao động thấp sang mô hình TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com -9- tăng trưởng dựa vào tăng NSLĐ và hòa hợp xã hội. Quá trình chuyển đổi này thành công sẽ giúp duy trì sự ổn định trong TTLĐ Trung Quốc trong bối cảnh nhân khẩu và sự di chuyển lao động đang có sự thay đổi. Nghiên cứu của Lam, Liu, & Schipke, (2015) dựa trên phân tích định lượng cho thấy sự chậm trễ trong cải cách có thể dẫn đến một sự suy yếu của điều kiện TTLĐ.
Đặc biệt, nó sẽ làm phát sinh một sự gia tăng liên tục của tỷ lệ thất nghiệp và khả năng tạo việc làm của nền kinh tế bị giảm xuống. Nếu quá trình chuyển đổi kinh tế thành công hướng tới tăng trưởng bền vững sẽ giúp lao động được di chuyển vào những lĩnh vực tăng trưởng mới. Cuối thập kỷ 80, đầu thập kỷ 90 của thế kỷ XX, sau sự sụp đổ của hệ thống XHCN Liên Xô, các nước Trung và Đông Âu (CEE) tiến hành chuyển đổi nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền KTTT, hội nhập với quốc tế và liên kết khu vực với những nước có trình độ phát triển cao hơn. Trong quá trình chuyển đổi đó, bên cạnh việc xây dựng và hoàn thiện thể chế KTTT, các nước này cũng tiến hành cải cách TTLĐ.
Nghiên cứu của Allison & Ringold (1996) về phát triển TTLĐ ở 9 nền kinh tế chuyển đổi ở các nước CEE trong giai đoạn 1989 – 1995, sử dụng phương pháp thống kê mô tả để phân tích xu thế TTLĐ, nghiên cứu của Allison & Ringold đã cung cấp một số bằng chứng về những chuyển đổi của TTLĐ trong giai đoạn này như tổng số việc làm giảm đáng kể trong tất cả các quốc gia sau sự suy giảm đầu ra và những cú sốc về giá cả trong giai đoạn đầu. Việc làm đã tiếp tục giảm do các doanh nghiệp tiến hành điều chỉnh để giảm thiểu chi phí và tăng tính cạnh tranh; việc làm khu vực tư nhân phát triển nhanh chóng nhưng vẫn không hấp thụ được hết lao động bị mất việc làm trong khu vực nhà nước; thất nghiệp cao nhất là đối với giới trẻ và có học vấn kém,… Nghiên cứu này khẳng định sự thành công của cải cách kinh tế trong quá trình chuyển đổi phụ thuộc vào năng lực của TTLĐ để thúc đẩy các điều kiện về hiệu quả, công bằng và ổn định chính trị. Tái cơ cấu ngành công nghiệp và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế đòi hỏi phải phân phối hiệu quả LLLĐ bằng cách tăng khả năng thích nghi và sự linh hoạt. TTLĐ ở Trung và Đông Âu đã được điều chỉnh trong quá trình chuyển đổi để đáp ứng các điều kiện mới.
Sau nhiều năm chịu sự kiểm soát cứng nhắc của các nhà hoạch định Trung ương, TTLĐ đã TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - 10 - phát triển năng động để bổ trợ cho quá trình tái cơ cấu kinh tế và tự do hóa. Nghiên cứu này cũng đề nghị Chính phủ các quốc gia cần tập trung cải tiến trong giáo dục, tăng khả năng tiếp cận vốn và tăng tính di động của lao động. Nghiên cứu của Cazes & Nesporova (2003) phân tích mô hình quản lý TTLĐ ở các nước CEE, TTLĐ của các nước này đã trải qua những thay đổi sâu sắc kể từ đầu quá trình chuyển đổi sang một hệ thống thị trường. Dựa trên phân tích thống kê và kinh tế lượng các tác giả đã phân ra hai mô hình quản lý lao động khác nhau được sử dụng rộng rãi ở các nước CEE.
Đó là mô hình quản lý lao động ở các nước thuộc miền Trung và Đông Nam Châu Âu (CSEE), bao gồm các nước vùng Baltic và một số nước trong Khu vực Cộng đồng các quốc gia độc lập (CIS). Các nước CSEE đã chọn cho mình một mô hình mà phần lớn là gắn trách nhiệm hỗ trợ lao động dôi dư từ các doanh nghiệp lên các tổ chức công cộng. Pháp luật bảo vệ việc làm đã được nới lỏng đáng kể, trong khi dịch vụ việc làm công được thành lập, và đưa ra các chính sách TTLĐ như chương trình bảo hiểm thất nghiệp và các chương trình phúc lợi xã hội. Các doanh nghiệp dễ dàng sa thải công nhân dư thừa bằng việc trả cho họ một khoản bồi thường tài chính theo quy định của pháp luật hoặc qua thỏa thuận tập thể.
Ngoài ra, các doanh nghiệp đã giảm rất nhiều chi phí dành cho đào tạo nhân lực trong doanh nghiệp và dịch vụ xã hội cho người lao động. Các nước CIS, ngược lại, tiếp tục dựa chủ yếu vào duy trì việc làm cho người lao động trong các doanh nghiệp thông qua pháp luật bảo vệ lao động. Dịch vụ việc làm công khá hạn chế, chi phí sa thải công nhân cao, cho nên thay vì sa thải, các doanh nghiệp thường lựa chọn các hình thức khác của việc điều chỉnh chi phí nhân công, chẳng hạn như công việc tạm thời, nghỉ hành chính hoặc trả lương chậm trong khi vẫn giữ công nhân trong biên chế. Do nhu cầu lao động thấp, đi đôi với những việc làm trống có sẵn trên TTLĐ chất lượng kém, giải pháp này dễ được chấp nhận hơn đối với tất cả các bên.
Về lý thuyết, mô hình đầu tiên tạo điều kiện tốt hơn và nhanh hơn điều chỉnh linh hoạt cho các doanh nghiệp và kích thích sự phân bổ hiệu quả hơn về lao động giữa các ngành, với mức tăng về NSLĐ cao hơn tổng thể. Tuy nhiên, người lao động chỉ có thể được hưởng lợi từ hệ thống này khi hệ thống dịch vụ việc làm công hỗ trợ tìm TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.