mở đầu trong thơ ca dân gian của Đinh Gia Khánh. là những công trình giàu giá trị và ghi nhận sự nỗ lực to lớn của tác giả trong hướng nghiên cứu thi pháp học. Khi miền Bắc được giải phóng, mối quan hệ gần gũi giữa Liên Xô và Việt Nam đã tạo điều kiện thuận lợi cho nghiên cứu thi pháp học phát triển. Nhiều nhà nghiên cứu được đi học tập ở Liên Xô như Đinh Gia Khánh, Trần 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Đình Sử, Phạm Vĩnh Cư, Lê Chí Quế, Nguyễn Xuân Kính, Trần Đăng Xuyền, Phạm Thu Yến.
đã trở thành những chuyên gia về thi pháp học ở nước ta. Nhiều công trình về folklore Nga được dịch và giới thiệu vào Việt Nam như: Thi pháp folklore là gì? (của Lê Chí Quế dịch, 1986); Nghiên cứu cấu trúc và nghiên cứu lịch sử về truyện cổ tích thần kỳ (Chu Xuân Diên dịch năm 1989); Tiếng cưới nghi lễ trong folklore (Chu Xuân Diên dịch năm 1989). Điều đó đã làm thi pháp văn học dân gian ở Việt Nam có cơ hội được hình thành và phát triển mạnh mẽ, mở rộng nội hàm từ thi pháp văn học viết sang thi pháp văn học dân gian. * Khái niệm Thi pháp học Theo Từ điển Thuật ngữ văn học của Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi, thi pháp học là khoa học nghiên cứu thi pháp, tức hệ thống các phương thức, phương tiện, thủ pháp biểu hiện đời sống bằng hình tượng nghệ thuật trong sáng tác văn học.
Mục đích của thi pháp học là chia tách và hệ thống hóa các yếu tố của văn bản nghệ thuật tham gia vào sự tạo thành thế giới nghệ thuật, ấn tượng thẩm mỹ, chiều sâu phản ánh của sáng tác nghệ thuật. Xét các chỉnh thể văn học mang thi pháp có thể nói tới thi pháp tác phẩm cụ thể, thi pháp tác giả, thi pháp một trào lưu, thi pháp văn học thời đại, thi pháp văn học dân tộc. Xét các phương tiện, phương thức nghệ thuật đã được chia tách, có thể nói tới thi pháp của thể loại, thi pháp của phương pháp, thi pháp của phong cách, thi pháp kết cấu, thi pháp không gian, thời gian, thi pháp ngôn ngữ. Xét về cách tiếp cận, thi pháp học có ba phạm vi nghiên cứu: thi pháp học đại cương, thi pháp học chuyên biệt và thi pháp học lịch sử.
Trong đó, thi pháp học đại cương được chia thành ba bộ phận, tương ứng với ba phương 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com diện của văn bản: ngữ âm, từ vựng và hình tượng. Thi pháp học chuyên biệt miêu tả tất cả các phương diện của sáng tác văn học trong mối quan hệ tương quan giữa chúng hay chính là kết cấu tác phẩm. Thi pháp học lịch sử nghiên cứu sự tiến hóa của các biện pháp nghệ thuật bằng phương pháp so sánh lịch sử. * Khái niệm Thi pháp văn học dân gian Khái niệm thi pháp văn học dân gian tại Việt Nam được sử dụng từ những năm 80 của thế kỷ trước, muộn hơn rất nhiều so với khái niệm thi pháp học.
Nó xuất hiện lần đầu tiên trong bài báo Một số vấn đề lí thuyết chung về mối quan hệ văn học dân gian - văn học viết của Lê Kinh Khiên và trở thành đề tài chính của báo cáo Về việc nghiên cứu thi pháp văn học dân gian của Chu Xuân Diên (tháng 7 - 1980) [13, tr. Theo Chu Xuân Diên, "thi pháp văn học dân gian là toàn bộ các đặc điểm về hình thức nghệ thuật, về phương thức và thủ pháp miêu tả, biểu hiện, về cách cấu tạo của đề tài, cốt truyện và phương pháp xây dựng hình tượng con người. Trong luận văn này, chúng tôi ứng dụng thi pháp văn học dân gian để nghiên cứu truyện cổ Tày Nùng trên các khía cạnh như nghệ thuật xây dựng nhân vật và nghệ thuật kể truyện bao gồm việc nghiên cứu các yếu tố như cốt truyện, nhân vật, motip, biểu tượng, giọng điệu. nhằm phản ánh đúng những đặc điểm dân tộc của văn học dân gian Tày - Nùng.
Tự sự và khái niệm trần thuật * Lịch sử hình thành và phát triển Tự sự đã tồn tại hàng chục thế kỷ từ khi con người biết phản ánh thông tin bằng giao tiếp. Song chỉ trong khoảng hơn nửa thế kỷ trở lại đây, khái 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com niệm đầu tiên về tự sự mới xuất hiện và tự sự học được coi là một đối tượng nghiên cứu độc lập. Chủ nghĩa cấu trúc (tiền thân của nó là trường phái hình thức) Nga đã làm cho "lí thuyết tự sự trở thành một học vấn có hệ thống chặt chẽ, kiến thức về tự sự đã không ngừng được khám phá từ xưa đến nay". Các học giả Nga Sklốpxki (V.
Tomashevski) là những người tiêu biểu nghiên cứu truyện kể theo cấu trúc. Họ tập trung nghiên cứu cấu trúc của truyện, đối tượng của trần thuật, trong đó chú ý xây dựng ngữ pháp của tự sự, chức năng của sự kiện, kết cấu, lôgic phát triển của chúng. Đến nửa cuối thế kỷ XX, chủ nghĩa cấu trúc Pháp với những tên tuổi như Roland Bathes, Claude Bremond. đã giải phóng tự sự, xem nó như một hiện tượng riêng biệt.
Và đến năm 1969, Tezvetan Todorov, một trong những đại biểu lớn của Cấu trúc luận Pháp khai sinh danh xưng Tự sự học khi xuất bản công trình Ngữ pháp Chuyện mười ngày. Song song cùng với khuynh hướng nghiên cứu truyện kể theo cấu trúc như trên còn có hai khuynh hướng nữa diễn ra trong giới nghiên cứu. Đó là khuynh hướng nghiên cứu sự triển khai của diễn ngôn trần thuật (lời kể, cách kể, giọng kể, người kể, tụ điểm, tần xuất ) mà G. Lanser và James Phelan là tiêu biểu.
Tiếp đến là khuynh hướng chủ trương nghiên cứu kết hợp cả hai mặt diễn ngôn và cấu trúc truyện kể với các tên tuổi tiêu biểu như tiêu biểu là Prince, S. Chatman và Mieke Bal. Vào thập niên 90 của thế kỷ trước, tự sự học đã tìm thấy cho mình một trung tâm phát triển mới - Mỹ. Sự ra đời những tạp chí như tạp chí Tự sự, 1993 và các công trình mới về tự sự học của Mỹ đã đánh dấu thời "phục hưng" và bước chuyển mình của tự sự: Từ giai đoạn kinh điển của chủ nghĩa 18 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com cấu trúc để bước sang giai đoạn hậu kinh điển.
Tự sự học hậu kinh điển có hai hướng nghiên cứu chính: Một là nghiên cứu đặc trưng chung của tác phẩm tự sự, bất kể sự khác nhau về phương tiện và thể loại (văn học, truyện tranh, điện ảnh, truyền hình, báo chí…); Hướng thứ hai là từ phân tích cấu trúc tự sự trừu tượng chuyển sang phân tích cấu trúc tự sự của tác phẩm cụ thể. Nhờ đó, tự sự học ngày càng được ứng dụng nghiên cứu, mở rộng. Tuy nhiên, tại nước ta, mãi đến năm 2001, Hội thảo tự sự học đầu tiên mới được tổ chức tại Đại học Sư phạm Hà Nội. Công trình Tự sự học - một số vấn đề lí luận và lịch sử (Nxb.
ĐHSP, 2003) ra đời ngay sau đó đã góp phần đưa tự sự học trở thành chuyên ngành nghiên cứu văn học. Nhiều các công trình nghiên cứu về tự sự, bản dịch từ tiếng nước ngoài được công bố, nhiều luận án, luận văn khoa văn học ứng dụng lý thuyết tự sự học để nghiên cứu tác phẩm văn học trong đó có văn học dân gian chứng tỏ tự sự học là chuyên ngành riêng biệt đang được quan tâm. * Khái niệm trần thuật - phương diện cơ bản của phương thức tự sự Theo từ điển Thuật ngữ văn học của Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi: Trần thuật là "phương diện cơ bản của phương thức tự sự, là việc giới thiệu, khái quát, thuyết minh, miêu tả đối với nhân vật, sự kiện, hoàn cảnh, sự vật theo cách nhìn của một người trần thuật nhất định. Trần thuật gắn liền với toàn bộ công việc bố cục, kết cấu tác phẩm.
trần thuật là cả một hệ thống tổ chức phức tạp nhằm đưa hành động, lời nói nhân vật vào đúng vị trí của nó để người đọc có thể lĩnh hội theo đúng ý nghĩa tác giả" Trong trần thuật có cái nhìn, điểm nhìn, giọng điệu, bố cục,. Các khái niệm liên quan đến truyện cổ Tày - Nùng * Khái niệm truyện cổ tích 19 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com “Truyện cổ tích là một loại truyện kể dân gian ra đời từ thời cổ đại, gắn liền với quá trình tan rã của chế độ công xã nguyên thủy, hoàn thành của gia đình phụ quyền và phân hóa giai cấp trong xã hội nó hướng vào những vấn đề cơ bản, những hiện tượng có tính chất phổ biến trong đời sống nhân dân đặc biệt là xung đột có tính chất riêng tư giữa người với người trong phạm vi gia đình xã hội. Nó dùng một thứ tưởng tượng và hư cấu riêng (có thể gọi là “tưởng tượng và hư cấu cổ tích”), kết hợp với các thủ pháp nghệ thuật đặc thù khác để phản ánh đời sống và ước mơ của nhân dân đáp ứng nhu cầu nhận thức, thẩm mĩ, giáo dục và giải trí của nhân dân trong những thời kì, những hoàn cảnh lịch sử khác nhau của xã hội có giai cấp (ở nước ta chủ yếu là xã hội phong kiến)”.42] Là thể loại ra đời vào thời kỳ công xã nguyên thủy tan rã, hình thành gia đình phụ quyền và giai cấp trong xã hội, nên truyện cổ tích hướng vào đối tượng phản ánh chính là những vấn đề xã hội có liên quan đến con người trong xã hội có giai cấp. Đó là mối quan hệ mâu thuẫn giữa con người và con người mang tính chất riêng tư phổ biến trong xã hội đó.
Ngoài ra truyện cổ tích còn phản ánh cả những ước mơ và khát vọng của nhân dân lao động về một xã hội công bằng, dân chủ, một xã hội chỉ có sự yêu thương giữa con người với con người, không có sự thù hận, đố kị hay ganh ghét. Trong xã hội đó con người ta sống bình đẳng với nhau trong sự đầy đủ về vật chất, hạnh phúc về tinh thần. Đồng thời truyện cổ tích cũng phản ánh cả truyền thống đạo lý của dân tộc, triết lý nhân sinh theo quan điểm của nhân dân lao động. Sống lạc quan yêu đời, thương yêu đùm bọc lẫn nhau chính là cốt lõi của triết lý nhân sinh và đạo lý làm người của người Việt được tác giả dân gian phản ánh đầy đủ trong các câu chuyện cổ tích.
Truyện cổ tích không phản ánh đời sống xã hội bằng trí tưởng tượng mang tính chất hoang 20 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.