mở đầu một kỷ nguyên mới. Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam trên dải non sông gấm vóc từ Lạng Sơn đến Minh Hải, thống nhất trong cơ chế chính trị và tổ chức nhà nước. Đây là cơ hội tốt nhất trọng lịch sử Phật giáo Việt Nam chưa từng có. Các vị tôn túc, các vị đứng đầu trong chín hệ phái tổ chức Phật giáo trong cả nước đều nhất trí tổ chức Hội nghị đại biểu thống nhất Phật giáo Việt Nam [34, tr.
Ngày 19/9/1981 Hội đồng Bộ trưởng nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (nay là Chính phủ) ký Quyết định 621/V8 cho phép Ban Vận động thống nhất Phật giáo Việt Nam tiến hành tổ chức Đại hội thống nhất Phật giáo Việt Nam. Tháng 11-1981, Hội nghị Đại biểu Thống nhất Phật giáo đã được tổ chức tại Thủ đô Hà Nội với sự tham dự của 165 đại biểu tăng ni, cư sĩ đại diện cho 9 tổ chức, hệ phái trong cả nước gồm: Giáo hội Phật giáo Việt Nam 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Thống nhất, Hội Phật giáo Thống nhất Việt Nam, Giáo hội Phật giáo Cổ truyền Việt Nam, Ban Liên lạc Phật giáo Thành phố Hồ Chí Minh, Giáo hội Tăng già Nguyên thuỷ Việt Nam, Hội Đoàn kết Sư sãi yêu nước Tây Nam Bộ, Giáo hội Tăng già Khất sĩ Việt Nam, Giáo hội Thiên Thai giáo Quán tông, Hội Phật học Nam Việt. Hội nghị đã nhất trí thành lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam, thông qua Hiến chương và đường hướng hoạt động "Đạo pháp - Dân tộc - Chủ nghĩa xã hội”. Kết quả cao nhất có tính quyết định sự thành công lớn của Hội nghị là đã được Hội đồng Bộ trưởng nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ban hành Quyết định số 83-BT ngày 29/12/1981 cho phép thành lập Giáo hội phật giáo Việt Nam (GHPGVN), phê chuẩn văn kiện, hiến chương Giáo hội (gồm lời nói đầu và 11 chương, 46 điều).
Công nhận tư cách pháp nhân của Giáo hội phật giáo Việt Nam và thành phần lãnh đạo hai Hội đồng tại Trung ương Giáo hội. Đến nay Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã trải qua 6 nhiệm kỳ Đại hội: - Nhiệm kỳ I (1981 -1987) là thời kỳ xây dựng và củng cố cơ sở với 50 thành viên Hội đồng Chứng minh, 50 thành viên Hội đồng Trị sự, thành lập 28 Ban Trị sự Phật giáo Tỉnh, Thành hội, 06 Ban ngành hoạt động. - Nhiệm kỳ II (1987-1992) là giai đoạn phát triển các mặt hoạt động theo chương trình nội dung 6 điểm của Giáo hội trong thời kỳ đổi mới của đất nước, với 60 thành viên Hội đồng Chứng minh, 60 thành viên Hội đồng Trị sự, thành lập 33 đơn vị Ban Trị sự Phật giáo Tỉnh, Thành hội, 08 Ban ngành hoạt động. - Nhiệm kỳ III (1992- 1997) là giai đoạn tiếp tục phát triển một cách toàn diện và hoàn chỉnh các mặt hoạt động của 10 Ban Ngành, Viện từ Trung ương đến địa phương trong thời kỳ tiếp tục đổi mới và mở cửa của đất nước, tiến tới mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, thành lập 41 đơn vị Ban Trị sự Phật giáo Tỉnh, Thành hội, với 75 thành viên Hội đồng Chứng minh, 70 thành viên Hội đồng Trị sự.
13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Nhiệm kỳ IV (1997-2002) thành lập 45 đơn vị Ban Trị sự Tỉnh, Thành hội Phật giáo, với 65 thành viên Hội đồng Chứng minh, 95 thành viên Hội đồng Trị sự. Đây là nhiệm kỳ tổng kết những thành quả của Giáo hội trong những năm cuối của thế kỷ 20 để vững vàng bước sang thế kỷ 21. - Nhiệm kỳ V (2002-2007) là nhiệm kỳ đầu của thế kỷ 21, với 52 đơn vị Ban Trị sự Tỉnh, Thành hội Phật giáo, 85 thành viên Hội đồng Chứng minh, 95 thành viên Hội đồng Trị sự chính thức và 24 thành viên Hội đồng Trị sự dự khuyết. - Nhiệm kỳ VI (2007-2012) kiện toàn cơ chế tổ chức, triển khai nội dung hoạt động theo tinh thần Hiến chương đã tu chỉnh, gồm 03 cấp hành chánh Giáo hội, với 58 đơn vị Ban Trị sự Tỉnh, Thành hội Phật giáo, 97 thành viên Hội đồng Chứng minh, 147 thành viên Hội đồng Trị sự chính thức và 48 thành viên Hội đồng Trị sự dự khuyết.
Trong nhiệm kỳ này, Giáo hội đã công nhận 06 Hội Phật tử Việt Nam tại các nước Châu Âu như: Cộng hòa Liên Bang Nga, Đức, Séc, Hungary, Ba Lan và Ucraina [37, tr. Những kỳ Đại hội là những chặng đường phát triển của GHPGVN. Giáo hội đã từng bước khắc phục khó khăn, phát huy nội lực ngày càng thể hiện sự thống nhất về mặt tổ chức từ Trung ương đến địa phương, có sự liên hệ chặt chẽ, điều hành và hướng dẫn Phật sự trong toàn Giáo hội. Hiện nay có 58 đơn vị Ban Trị sự Tỉnh, Thành hội Phật giáo trên 63 tỉnh thành trong cả nước và có trên 10 triệu tín đồ; khoảng 44.000 chức sắc, nhà tu hành; gần 16.000 cơ sở thờ tự, 4 học viện Phật giáo [55, tr.
Về tổ chức, Giáo hội được xây dựng theo cơ cấu: Cấp Trung ương có Hội đồng Chứng minh và Hội đồng Trị sự, với 11 ban chuyên môn như: Ban Tăng sự, Ban Giáo dục Tăng ni, Ban Hướng dẫn Phật tử, Ban Hoằng pháp, Ban Nghi lễ, Ban Văn hoá, Ban Kinh tế - Tài chính, Ban Từ thiện Xã hội, Ban Phật giáo Quốc tế, Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam và Văn phòng. 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Dưới cấp Trung ương là các Ban Trị sự tỉnh, thành hội và Ban Đại diện huyện (quận) và Đại diện ở xã (phường). Đơn vị cơ sở của GHPGVN là các chùa, tự viện, tịnh xá, tịnh thất, niệm Phật đường. Chính sách của Nhà nước ta về tín ngưỡng, tôn giáo 1.
Chủ trương, chính sách của Đảng đối với tín ngưỡng, tôn giáo Chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước Việt Nam được xây dựng trên quan điểm cơ bản của học thuyết Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về tín ngưỡng, tôn giáo và căn cứ vào đặc điểm tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam. Trong quá trình lãnh đạo cách mạng cũng như trong lãnh đạo việc quản lý xã hội và điều hành đất nước, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn quan tâm đến tôn giáo và có chính sách tín ngưỡng, tôn giáo đúng đắn và phù hợp với từng giai đoạn của cách mạng. Năm 1990, Bộ chính trị đã ban hành Nghị quyết số 24- NQ/BCT ngày 16/11 về công tác tôn giáo chỉ rõ "Tôn giáo là vấn đề còn tồn tại lâu dài. Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân.
Đạo đức tôn giáo có nhiều điều phù hợp với công cuộc xây dựng xã hội mới". Năm 1998, Bộ Chính trị ra Chỉ thị số 37-CT/BCT ngày 02/7 về Công tác tôn giáo trong tình hình mới nêu rõ chủ trương cần tiếp tục quán triệt các quan điểm chỉ đạo của Nghị quyết số 24 nhằm làm tốt hơn công tác tôn giáo, phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân. Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng tiếp tục khẳng định tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân và phát huy những giá trị tốt đẹp về văn hóa, đạo đức của tôn giáo. Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX đã ra Nghị quyết 25-NQ/TW ngày 12/3/2003 về công tác tôn giáo trên cơ sở vận dụng chủ nghĩa Mác Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, tiếp tục phát triển các quan điểm của Nghị quyết số 24 và cụ thể hoá Nghị quyết của Đại hội IX.
Tư tưởng của Nghị quyết số 25 được thể hiện qua các nội dung chủ yếu sau: - Hoạt động tôn giáo và công tác tôn giáo trong giai đoạn mới phải 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nhằm tăng cường đoàn kết đồng bào các tôn giáo trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc, phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc. - Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân đang và sẽ tồn tại cùng dân tộc trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Đồng bào các tôn giáo là bộ phận của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Thực hiện nhất quán chính sách tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, theo hoặc không theo một tôn giáo nào, quyền sinh hoạt tôn giáo bình thường theo đúng pháp luật.
Các tôn giáo hoạt động trong khuôn khổ pháp luật, bình đẳng trước pháp luật. - Đảng và Nhà nước Việt Nam thực hiện nhất quán chính sách đại đoàn kết toàn dân tộc, không phân biệt đối xử vì lý do tín ngưỡng, tôn giáo. Đoàn kết đồng bào theo các tôn giáo khác nhau; đoàn kết đồng bào theo tôn giáo và đồng bào không theo tôn giáo. Đại đoàn kết toàn dân tộc với mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh là điểm tương đồng để gắn bó đồng bào các tôn giáo với sự nghiệp chung.
Mọi công dân không phân biệt tín ngưỡng, tôn giáo đều có quyền và nghĩa vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Động viên đồng bào nêu cao tinh thần yêu nước, ý thức bảo vệ độc lập và thống nhất Tổ quốc; thông qua việc thực hiện tốt các chính sách kinh tế - xã hội, an ninh, quốc phòng, bảo đảm lợi ích vật chất và tinh thần của nhân dân nói chung, trong đó có đồng bào các tôn giáo. - Giữ gìn và phát huy những giá trị tích cực của truyền thống thờ cúng tổ tiên, tôn vinh những người có công với Tổ quốc và nhân dân. Nghiêm cấm sự phân biệt đối xử với công dân vì lý do tín ngưỡng, tôn giáo.
Đồng thời, nghiêm cấm lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để hoạt động mê tín dị đoan, hoạt động trái pháp luật và chính sách của Nhà nước, kích động chia rẽ nhân dân, chia rẽ các dân tộc, gây rối, xâm phạm an ninh quốc gia. 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Công tác tôn giáo là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, có liên quan đến nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội và nhiều cấp, nhiều ngành vì cuộc sống tinh thần và vật chất của hàng chục triệu tín đồ, chức sắc, nhà tu hành của các tôn giáo, phân bố ở mọi vùng, miền, địa phương trong cả nước. - Mọi tín đồ đều có quyền tự do hành đạo tại gia đình và cơ sở thờ tự hợp pháp theo quy định của pháp luật.