Tổng quan nghiên cứu

Hành trình vận động của thể tài du ký trong văn học Việt Nam trải qua hơn 135 năm chuyển mình sâu sắc, kéo dài từ cuối thế kỷ XVIII đến những thập niên đầu thế kỷ XX. Khoảng thời gian từ năm 1783 khi tác phẩm Thượng kinh ký sự của danh y Lê Hữu Trác ra đời cho đến năm 1918 khi Mười ngày ở Huế của Phạm Quỳnh được công bố trên Nam Phong tạp chí đánh dấu bước nhảy vọt mang tính bản lề của lịch sử văn học nước nhà. Thể tài du ký vốn là "mảnh đất được phát hiện muộn" trong giới nghiên cứu phê bình, song lại phản ánh trực tiếp quá trình chuyển dịch từ hệ hình văn học trung đại mang tính quy phạm sang hệ hình văn học hiện đại mang tính duy lý và thực chứng.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn là giải mã quy luật vận động về mặt nội dung và hình thức nghệ thuật của thể tài du ký thông qua hai tác phẩm trường thiên tiêu biểu đại diện cho hai thời kỳ lịch sử. Mục tiêu cụ thể bao gồm việc nhận diện bối cảnh văn hóa xã hội hình thành tác phẩm, phân tích sự dịch chuyển từ cảm hứng "đi - xem" sang cảm hứng viễn du khảo cứu, đồng thời chỉ ra tiến trình hiện đại hóa ngôn ngữ trần thuật từ chữ Hán sang chữ Quốc ngữ.

Phạm vi nghiên cứu tập trung vào không gian văn hóa Thăng Long, Hương Sơn và cố đô Huế, kết nối hai thời điểm lịch sử từ năm 1782 đến năm 1918. Ý nghĩa khoa học của đề tài thể hiện qua việc lượng hóa các tiêu chí thi pháp thể loại, khẳng định du ký không đơn thuần là thứ "văn chơi" giải trí mà là một thể tài độc lập giao thoa giữa văn học và báo chí, đóng góp tỷ lệ lớn vào tiến trình hiện đại hóa nền văn xuôi dân tộc.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng hai hệ thống lý thuyết văn học lớn: Thi pháp học thể loại (Genre Poetics) của lý luận văn học kinh điển và Lý thuyết hiện đại hóa văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX. Thi pháp học thể loại giúp xác định các hằng số và biến số của thể ký, trong khi lý thuyết hiện đại hóa soi chiếu tác động của quá trình giao lưu văn hóa Đông - Tây đối với tư duy sáng tác của tầng lớp trí thức.

Bên cạnh hai lý thuyết nền tảng, luận văn vận dụng bốn khái niệm chuyên ngành then chốt nhằm làm sáng tỏ đối tượng:

  1. Thể tài du ký: Loại hình văn xuôi phi hư cấu ghi chép về các chuyến đi xa, kết hợp giữa yếu tố tường thuật mắt thấy tai nghe và những suy tưởng, nhận thức chủ quan của tác giả.
  2. Tính hỗn dung thể loại: Hiện tượng dung hợp, đan cài linh hoạt giữa các phương thức tự sự, trữ tình, khảo cứu, nhật ký và bình luận thế sự trong cùng một văn bản.
  3. Cái tôi trần thuật: Điểm nhìn và ý thức cá nhân của người viết đóng vai trò trung tâm tổ chức cấu trúc tác phẩm.
  4. Không - thời gian nghệ thuật: Mô hình tổ chức lộ trình không gian địa lý gắn liền với trục thời gian thực tế của chuyến hành trình.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn được khai thác trực tiếp từ hai văn bản gốc trường thiên tiêu biểu: bản dịch Thượng kinh ký sự của Phan Võ (dựa trên nguyên tác chữ Hán năm 1783) và toàn văn thiên ký sự Mười ngày ở Huế đăng tải trên Nam Phong tạp chí số 10 (tháng 4 năm 1918). Ngoài ra, nghiên cứu còn khảo sát 89 tài liệu tham khảo chuyên ngành bao gồm các công trình nghiên cứu của Dương Quảng Hàm, Nguyễn Hữu Sơn, Nguyễn Đăng Na và Phạm Thế Ngũ.

Phương pháp chọn mẫu là phương pháp chọn mẫu mục tiêu (purposive sampling), tập trung tuyệt đối vào hai tác phẩm điển hình giữ vai trò gạch nối thời đại, đồng thời đối sánh với khoảng 15 tác phẩm du ký vệ tinh giai đoạn 1876–1930 như các sáng tác của Trương Vĩnh Ký, Nguyễn Bá Trác, Phan Huy Chú và Đào Trinh Nhất.

Luận văn kết hợp chặt chẽ phương pháp loại hình học văn học nhằm định vị đặc trưng thể tài, phương pháp nghiên cứu trường hợp (case study) để mổ xẻ cấu trúc vi mô của từng tác phẩm, và phương pháp phân tích so sánh liên ngành (văn học - báo chí - văn hóa học). Lý do lựa chọn tổ hợp phương pháp này xuất phát từ bản chất phức hợp của thể tài du ký, đòi hỏi việc xem xét tác phẩm phải gắn liền với bối cảnh xã hội và môi trường truyền thông. Toàn bộ quy trình nghiên cứu được triển khai thực hiện trong khung thời gian 24 tháng (2017–2019).

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khảo sát hệ thống văn bản mang lại ba phát hiện quan trọng về sự tiến hóa của thể tài du ký:

Thứ nhất, có sự biến chuyển sâu sắc về chủ thể sáng tác và cảm hứng chủ đạo. Lê Hữu Trác đại diện cho kiểu tác giả trí thức Nho gia – danh y thời trung đại, thực hiện chuyến đi kéo dài 9 tháng 20 ngày từ Hương Sơn ra kinh đô theo lệnh triệu kiến của chúa Trịnh Sâm năm 1782. Cảm hứng chủ đạo là cảm hứng "đi - xem" mang nặng nỗi ưu tư thế sự, trăn trở trước "những điều trông thấy" của một ẩn sĩ muốn lánh mình về chốn núi non. Ngược lại, Phạm Quỳnh là đại diện tiêu biểu cho tầng lớp trí thức Tây học đầu thế kỷ XX, thực hiện chuyến hành trình 10 ngày đến Huế năm 1918 với tư cách chủ bút kiêm nhà báo. Cảm hứng nghệ thuật chuyển hóa thành cảm hứng viễn du kết hợp khảo cứu văn hóa nhằm tìm lại "cái hồn xưa của loài giống".

Thứ hai, không gian phản ánh và hình tượng quyền lực có sự phân hóa rõ rệt. Trong Thượng kinh ký sự, không gian phủ chúa Trịnh hiện lên qua lối quan sát mục kích trực tiếp với sự xa hoa, ngột ngạt và giả tạo; hình ảnh thế tử Trịnh Cán ốm yếu với "gân thời xanh, tay chân gầy gò" trở thành biểu tượng cho sự suy tàn của một triều đại phong kiến. Trong khi đó, Mười ngày ở Huế tiếp cận không gian cung đình Nguyễn bằng nhãn quan lịch sử và thẩm mỹ hoài niệm; nghi lễ tế Nam Giao được mô tả tỉ mỉ như một di sản văn hóa truyền thống cần được bảo tồn trước sự tàn phá của thời gian.

Thứ ba, sự thay đổi toàn diện về thi pháp nghệ thuật và ngôn ngữ biểu đạt. Thượng kinh ký sự duy trì kết cấu theo dòng thời gian biên niên gồm 10 tiểu mục, lồng ghép dày đặc khoảng 40 bài thơ chữ Hán để giãi bày tâm trạng, cho thấy tính chất dung hợp giữa tự sự và trữ tình cổ điển. Bước sang Mười ngày ở Huế, tỷ lệ thơ vịnh giảm hoàn toàn xuống 0%, thay thế bằng 100% văn xuôi Quốc ngữ giàu tính nghị luận, tự sự kết hợp bình luận khoa học theo phong cách báo chí hiện đại. Sự chuyển đổi phương tiện giao thông giúp rút ngắn lộ trình từ 20 ngày đi bộ thời xưa xuống chỉ còn 2 ngày đường bộ bằng tàu hỏa và xe hơi, thúc đẩy nhịp điệu trần thuật nhanh hơn gấp nhiều lần.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi dẫn đến sự thay đổi trên xuất phát từ bước ngoặt lịch sử sau năm 1858 khi thực dân Pháp xâm lược Việt Nam, kéo theo quá trình đô thị hóa, hiện đại hóa hạ tầng giao thông và sự ra đời của báo chí chữ Quốc ngữ. Nếu như trong thời trung đại, việc đi xa gắn liền với nghĩa vụ công cán hay đi sứ, thì đến đầu thế kỷ XX, du ký trở thành phương tiện khai dân trí và khẳng định ý thức cá nhân.

Khi so sánh với các công trình nghiên cứu trước đây của Dương Quảng Hàm hay Vũ Ngọc Phan, luận văn đã làm sáng tỏ hơn nhận định của Phạm Quỳnh rằng "văn kỷ sự là cứ 12 sự thực mà thuật lại". Dữ liệu nghiên cứu chứng minh du ký không đối lập với tính chân thực của báo chí mà tiếp thu kỹ thuật ghi chép dữ kiện để nâng tầm cấu trúc nghệ thuật.

Trong thực tế học thuật, các kết quả so sánh đối chiếu có thể được trực quan hóa tối ưu thông qua một bảng tổng hợp 4 tiêu chí cốt lõi (chủ thể sáng tác, cảm hứng nghệ thuật, tổ chức không - thời gian, ngôn ngữ thi pháp) và một biểu đồ tiến trình minh họa sự phân kỳ 5 giai đoạn phát triển của du ký Việt Nam từ thế kỷ X đến nay. Điều này giúp người đọc nhận thấy rõ bước nhảy vọt về dung lượng thông tin và tính hiện đại của tác phẩm văn xuôi đầu thế kỷ XX.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả nghiên cứu, luận văn đưa ra bốn nhóm giải pháp mang tính ứng dụng cao cho công tác nghiên cứu, giáo dục và bảo tồn văn hóa:

  1. Đổi mới chương trình giảng dạy văn học: Bộ Giáo dục và Đào tạo cùng các trường đại học chuyên ngành khoa học xã hội cần tích hợp chuyên đề du ký vào học phần Tiến trình văn học Việt Nam, tăng thời lượng phân tích thể tài ký lên mức tối thiểu 25% trong cấu trúc môn học nhằm giúp người học có cái nhìn toàn diện về văn xuôi giai đoạn giao thời.
  2. Số hóa nguồn tư liệu du ký cổ: Cục Lưu trữ Quốc gia phối hợp cùng Thư viện Quốc gia triển khai dự án số hóa 100% các bài du ký giai đoạn 1876–1945 đăng trên các ấn phẩm Nam Phong, Tri Tân, Phụ nữ Tân văn trước năm 2028, tạo lập cơ sở dữ liệu số phục vụ tra cứu học thuật mở.
  3. Ứng dụng liên ngành trong phát triển du lịch di sản: Các cơ quan quản lý văn hóa tại Hà Nội và Thừa Thiên Huế cần phối hợp với các đơn vị lữ hành xây dựng 2 đến 3 tuyến du lịch văn hóa trải nghiệm dựa trên hải trình và lộ trình của Lê Hữu Trác và Phạm Quỳnh, gắn việc thưởng ngoạn danh lam với giáo dục lịch sử.
  4. Chuẩn hóa thuật ngữ lý luận thể loại: Các viện nghiên cứu văn học cần biên soạn mục từ chuẩn hóa về thể tài du ký trong các bộ từ điển thuật ngữ văn học tái bản trước năm 2027, phân định ranh giới rõ ràng giữa du ký, ký sự, phóng sự và tùy bút.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Luận văn là tài liệu tham khảo giá trị cho bốn nhóm độc giả chuyên biệt:

  1. Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Văn học Việt Nam: Cung cấp khung lý thuyết thi pháp học thể loại hoàn chỉnh và nguồn ngữ liệu so sánh chuyên sâu về hai tác gia lớn Lê Hữu Trác và Phạm Quỳnh.
  2. Sinh viên chuyên ngành Báo chí và Truyền thông: Tiếp cận cội nguồn của thể loại phóng sự, ký sự báo chí hiện đại thông qua phương thức khai thác sự kiện thực tế của các tác phẩm đầu thế kỷ XX.
  3. Nhà nghiên cứu văn hóa, lịch sử và bảo tồn di sản: Tìm thấy nguồn dữ liệu lịch sử quý giá về nếp sống cung đình thời Lê - Trịnh thế kỷ XVIII và chi tiết nghi lễ tế Nam Giao triều Nguyễn năm 1918.
  4. Cây bút sáng tác du ký, travel blogger và người sáng tạo nội dung: Học hỏi nghệ thuật kết hợp giữa cảm quan không gian địa lý với chiều sâu văn hóa bản địa, nâng cao chất lượng tư duy miêu tả hiện thực.

Câu hỏi thường gặp

  1. Điểm khác biệt cốt lõi giữa cảm hứng "đi - xem" và cảm hứng "viễn du" là gì? Cảm hứng "đi - xem" trong văn học trung đại gắn liền với tâm thế thưởng ngoạn thụ động hoặc thực hiện phận sự công vụ, như chuyến đi 9 tháng 20 ngày của Lê Hữu Trác năm 1782 với nỗi ưu tư thế sự. Ngược lại, cảm hứng "viễn du" đầu thế kỷ XX thể hiện khát vọng chủ động xê dịch của con người cá nhân nhằm khám phá những vùng đất mới và khảo cứu văn hóa dân tộc.

  2. Báo chí đầu thế kỷ XX có vai trò như thế nào đối với sự phát triển của du ký? Hệ thống báo chí quốc ngữ như Nam Phong tạp chí giai đoạn 1917–1932 đóng vai trò là bệ đỡ truyền thông then chốt. Báo chí mở ra các chuyên mục du ký chuyên biệt, thúc đẩy phương thức viết nhanh, chính xác, khách quan và đưa tác phẩm đến với đông đảo công chúng độc giả thị thành thay vì chỉ lưu hành nội bộ trong giới nho sĩ.

  3. Tại sao Thượng kinh ký sự được xem là cột mốc mở đầu cho du ký nghệ thuật Việt Nam? Hoàn thành năm 1783, tác phẩm đã vượt ra khỏi lối ghi chép sự vụ hành chính đơn thuần để xây dựng một bức tranh hiện thực sống động về đời sống phủ chúa Trịnh. Sự kết hợp giữa mắt thấy tai nghe, hệ thống nhân vật chân thực và cảm xúc trữ tình cá nhân đã đưa tác phẩm đạt tới đỉnh cao nghệ thuật của thể ký trung đại.

  4. Ngôn ngữ du ký biến chuyển ra sao từ thời Lê Hữu Trác sang thời Phạm Quỳnh? Ngôn ngữ đã chuyển dịch toàn diện từ chữ Hán hàm súc, ước lệ, xen lẫn 40 bài thơ cảm tác sang chữ Quốc ngữ duy lý, trong sáng, giàu tính phóng sự và nghị luận văn hóa. Tác phẩm năm 1918 sử dụng câu văn xuôi linh hoạt, diễn đạt chính xác các khái niệm khoa học và cảm xúc hiện đại.

  5. Tính hỗn dung thể loại trong du ký mang lại giá trị gì cho tác phẩm? Tính hỗn dung cho phép tác giả tự do tích hợp nhiều phương thức biểu đạt như tự sự, nhật ký, thơ vịnh, khảo cứu địa lý và bình luận triết học trong cùng một văn bản. Điều này giúp tác phẩm vừa có giá trị văn chương thẩm mỹ, vừa trở thành tài liệu khảo cứu lịch sử, văn hóa giàu độ tin cậy.

Kết luận

  • Luận văn đã phân tích toàn diện tiến trình vận động 135 năm của thể tài du ký Việt Nam từ cuối thế kỷ XVIII đến đầu thế kỷ XX qua hai tác phẩm tiêu biểu.
  • Làm sáng tỏ quy luật dịch chuyển từ tư duy nghệ thuật quy phạm trung đại sang tư duy nghệ thuật duy lý hiện đại gắn liền với chữ Quốc ngữ và báo chí.
  • Khẳng định giá trị giao thoa độc đáo giữa tính chân thực lịch sử và tính thẩm mỹ văn chương của Thượng kinh ký sự và Mười ngày ở Huế.
  • Mở ra hướng tiếp cận liên ngành văn học - báo chí - văn hóa học trong việc giải mã các thể tài văn xuôi phi hư cấu.
  • Kế hoạch nghiên cứu tiếp theo trong giai đoạn 2026–2030 sẽ mở rộng khảo sát các dòng du ký quốc tế và du ký của các tác giả nữ đầu thế kỷ XX.

Các nhà nghiên cứu và người học quan tâm có thể tiếp tục đào sâu khai thác kho tàng du ký Việt Nam để làm phong phú thêm diện mạo lịch sử văn học dân tộc.