Chương 1. Vị trí và vai trò của thể chế chính trị trong đời sống của mỗi quốc gia 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chương 2. Nhu cầu phải thay đổi thể chế chính trị ở Liên bang Nga Chương 3. Thể chế chính trị Liên bang Nga đương đại 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1 VỊ TRÍ VÀVAI TRÒ CỦA THỂ CHẾ CHÍNH TRỊ TRONG ĐỜI SỐNG CỦA MỖI QUỐC GIA 1.
Khái niệm thể chế và thể chế chính trị 1. Khái niệm thể chế Trong đời sống xã hội hiện nay, đặc biệt là trong khoa học xã hội và nhân văn (Quản lý xã hội, khoa học chính trị, khoa học pháp lý), thuật ngữ thể chế chính trị được sử dụng tương đối phổ biến. Với tư cách là khoa học về những quy luật hình thành và phát triển của các loại hình chính trị, thể chế chính trị là hình thức biểu hiện tập trung, quan trọng nhất của chính trị [2]. Cùng các nguyên tắc tổ chức và phương thức vận hành của các xã hội có giai cấp và nhà nước, khái niệm thể chế và thể chế chính trị được sử dụng như là khái niệm công cụ hay phạm trù trung tâm.
Tuy nhiên, cho đến nay sự nhận thức về khái niệm này vẫn chưa có sự thống nhất. Nhìn chung, có thể khái quát thành một số quan niệm như sau: Trong Tiếng Anh từ “Institution” và trong Tiếng Nga từ “ÈHCTÈTYT” đều được hiểu là thể chế hay định chế. Tuỳ theo nhiều cách hiểu khác nhau, nhưng thể chế hay định chế đều là từ Hán Việt. Trong cuốn từ điển Hán Việt của soạn giả Đào Duy Anh, tác giả cho rằng: Thể chế là cách thức, chế độ.
Còn định chế được giải thích là chế độ đã nhất định từ trước[3]. Trong cuốn từ điển Tiếng Việt của Viện ngôn ngữ học được Nhà xuất bản Đã Nẵng xuất bản năm 2001,“thể chế ” được hiểu một cách tổng quát là những quy định, luật lệ của một chế độ xã hội buộc mọi người phải tuân theo[60]. 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Cũng theo một cuốn từ điển khác của Nhà xuất bản Văn hoá thông tin xuất bản năm 1999, “thể chế ” được hiểu hẹp hơn là toàn bộ cơ cấu của xã hội do pháp luật tạo ra[62]. Trong Tiếng Việt, thể chế được dùng tương tự như định chế [16].
Theo Liltre, nhà ngôn ngữ học người Pháp thì định chế là để chỉ những gì con người nghĩ ra, lập ra, đối lập với tất cả những gì có trong thiên nhiên. Còn theo nhà xã hội học Durkhem, quan niệm định chế là những tư tưởng, tập quán xã hội mà cá nhân đã có từ trước mắt mình và hầu như có giá trị cưỡng ép nhiều hay ít đối với họ. Đối với các luật gia, định chế là toàn bộ những quy tắc pháp luật liên quan một đối tượng duy nhất, đến cùng một số chức vụ, hợp thành một khối có trình tự mạch lạc[12]. Theo nghĩa này thì hôn nhân, khế ước, quốc hội, bầu cử đều là những định chế.
Có quan niệm lại cho rằng: Thể chế và thiết chế là đồng nhất, đó là những quy định, luật lệ của một chế độ xã hội buộc mọi người phải tuân theo. Quan niệm này được thể hiện trong cuốn Đại từ điển tiếng Việt (do Nguyễn Như Ý chủ biên), Từ điển tiếng Việt (do Hồng Phê chủ biên -1992) và Từ điển Luật học (do Nguyễn Hữu Quỳnh chủ biên-1999). Trái ngược với những suy nghĩ trên, có ý kiến cho rằng thể chế và định chế là hai dạng biểu hiện khác nhau của cùng một cấu trúc xã hội. Theo cách hiểu này, thể chế là những quy định, luật lệ, giá trị phản ánh mặt tinh thần của cấu trúc xã hội.
Còn thiết chế là những bộ phận cấu thành của một cấu trúc xã hội , phản ánh mặt vật chất của cấu trúc đó. Quan niệm này gần giống với quan niệm của các nhà biên soạn từ điển Tiếng Pháp. Theo đó, thuật ngữ Institution có nghĩa là: + Thể chế là sự đặt định những luật lệ, là các luật lệ cơ bản của một quốc gia. 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com + Thiết chế là các bộ phận cấu thành của một cấu trúc, cần phải duy trì và tôn trọng.
Một quan niệm khác lại cho rằng, thể chế có hai nghĩa rộng và hẹp: - Theo nghĩa rộng, thể chế được xem gần như là những khái niệm hệ thống, bao gồm cả những định chế và cả những thành tố cấu thành hệ thống, với ý nghĩa này, khái niệm thể chế thống nhất với khái niệm hệ thống chính trị. - Theo nghĩa hẹp, thể chế là những quy định, luật lệ, chuẩn mực, giá trị của một cấu trúc xã hội hoặc của xã hội buộc mọi người phải tuân thủ và theo đó các thiết chế được dựng lên, các quan hệ xã hội được điều chỉnh. Nhìn chung vẫn còn tồn tại những khác biệt từ các quan niệm, nhưng có thể khái quát những khía cạnh cơ bản về thể chế: Thể chế và thiết chế là phạm trù xã hội chỉ được sử dụng trong đời sống xã hội của con người, không có khái niệm thể chế nói chung và cũng không có khái niệm thể chế thuộc về thế giới tự nhiên. Vì vậy, khi nói đến thể chế hoặc thiết chế cũng đồng nghĩa với nói thể chế xã hội và thiết chế xã hội.
Tuy vậy, thuật ngữ "xã hội" lại thường được hiểu theo hai nghĩa: - Nghĩa rộng là toàn bộ đời sống xã hội. - Nghĩa hẹp là lĩnh vực xã hội của đời sống xã hội. Theo đó, thể chế và thiết chế cũng được hiểu theo hai nghĩa tương ứng: Thể chế ( thể chế xã hội) theo nghĩa rộng là khái niệm dùng để chỉ một hệ thống những quy định, luật lệ, giá trị, chuẩn mực hợp thành những nguyên tắc tổ chức và phương thức vận hành của xã hội ở một giai đoạn phát triển nhất định của lịch sử. Theo nghĩa này, thể chế bao gồm: Thể chế kinh tế, chính trị, xã hội và văn hoá.
Thể chế theo nghĩa hẹp là khái niệm dùng để chỉ một hệ thống những quy định, luật lệ, giá trị, chuẩn mực hợp thành những nguyên tắc tổ chức, 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com phương thức vận hành của một lĩnh vực hoặc một cấu trúc xã hội nào đó của xã hội ở một giai đoạn phát triển lịch sử nhất định. Thiết chế (thiết chế xã hội) theo nghĩa rộng là khái niệm dùng để chỉ một hệ thống các yếu tố, phù hợp với thể chế tương ứng hợp thành một xã hội. Với ý nghĩa này, thiết chế cũng bao gồm: Thiết chế kinh tế, chính trị, xã hội, văn hoá. Theo nghĩa hẹp, thiết chế xã hội là khái niệm dùng để chỉ mặt hệ thống các yếu tố phù hợp với thể chế tương ứng, hợp thành một lĩnh vực hoặc một cấu trúc xã hội nào đó của xã hội.
Tựu trung lại, thể chế và thiết chế là hai khái niệm biểu hiện khác nhau của cùng một lĩnh vực, một cấu trúc xã hội và mối quan hệ biện chứng với nhau, nếu như thể chế là những chuẩn mực quy định sự hình thành và phương thức vận hành của một lĩnh vực, một cấu trúc và của toàn xã hội thì thiết chế là yếu tố vật chất của một lĩnh vực, một cấu trúc của xã hội. Khi xem xét, nghiên cứu cấu trúc xã hội về phương diện thể chế, không thể không tính đến phương diện thiết chế của cấu trúc đó, bởi không có một thể chế nào lại không gắn với một cấu trúc xã hội nhất định và ngược lại không có một thiết chế của một cấu trúc xã hội nào lại được dựng lên từ một thể chế tương ứng. Trong xã hội chưa có giai cấp (xã hội cộng sản nguyên thuỷ) do chưa có nhà nước, chưa có pháp luật, chỉ có những quy tắc tập quán, tín điều tôn giáo hình thành trên cơ sở đời sống cộng đồng [43]. Nên những thiết chế xã hội Thị tộc, Bộ lạc được tổ chức kém chặt chẽ và chính vì vậy, xã hội trở nên kém bền vững trước sự phát triển ngày càng cao của lực lượng sản xuất và những xung đột ngày càng gay gắt về giai cấp.
Tất nhiên, cả những hình thái kinh tế - xã hội sau, thiết chế này vẫn không bền vững trước sự phát triển của 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com xã hội, đặc biệt là sự phát triển của khoa học kỹ thuật. Điều này xuất phát từ những luật lệ, những quy định và ngay cả những giá trị mang tính lịch sử. Tuy nhiên, nó vẫn bền vững hơn, một phần là nhờ vào những giá trị cộng đồng, mặt khác, phụ thuộc vào những định chế có tính pháp lý cho xã hội tạo ra buộc cá nhân và tổ chức phải tuân theo. Khái niệm thể chế chính trị Chính trị là hoạt động đặc biệt quan trọng của đời sống, quan hệ đến lợi ích của mọi thành viên trong cộng đồng xã hội.
Thể chế chính trị là bộ phận cấu thành của chính trị. Trong một chế độ xã hội, thể chế chính trị tác động trực tiếp đến đời sống của mọi người dân ít hay nhiều, mỗi quốc gia đều chịu sự tác động của thể chế chính trị. Thể chế chính trị là một bộ phận của kiến trúc thượng tầng có vai trò to lớn đối với sự tiến bộ cuả xã hội. Phạm trù thể chế (Institution), Thể chế chính trị (Political/ Institution), thể chế nhà nước (State/ Institution) thể chế Đảng (Party/ Institution) là những phạm trù chính trị được dùng phổ biến trong các diễn đàn chính trị thế giới.
Bởi chúng có nội dung và giữ vị trí đặc biệt quan trọng trong đời sống chính trị. Ở Việt Nam, các phạm trù này thực tế trước đây còn ít sử dụng và thực tế cũng mới chỉ được sử dụng phổ biến từ những năm đổi mới, đặc biệt là phạm trù thể chế chính trị (Political/ Institution). Tuy nhiên khái niệm thể chế chính trị vẫn chưa có sự nhận thức thống nhất, nếu có đề cập thì cũng chỉ mang tính rời rạc, chỉ nói đến một hoặc một số khía cạnh nào đó của thể chế chính trị. Thể chế chính trị là một trong những vấn đề rất quan trọng trong đời sống của mỗi quốc gia, nó can thiệp đến mọi con người và mọi tổ chức trong một nhà nước.
Để nhận thức đúng bản chất của thể chế chính trị, trước hết phải bắt đầu từ khái niệm của nó. 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.