Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THẾ CHẤP DỰ ÁN ĐẦU TƯ KINH DOANH BẤT ĐỘNG SẢN TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM 1. Khái quát về dự án đầu tư kinh doanh bất động sản 1. Khái niệm dự án đầu tư kinh doanh bất động sản Hầu hết các quốc gia trên thế giới đều phân loại tài sản theo Luật La Mã, tức là phân loại tài sản thành “Động sản” và “Bất động sản”. Ở Việt Nam, Bộ luật dân sự 2015 phân chia tài sản như sau:“Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản; tài sản bao gồm bất động sản và động sản.
Bất động sản và động sản có thể là tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai”. Trong đó,“Bất động sản bao gồm đất đai; nhà, công trình xây dựng gắn liền với đất đai; tài sản khác gắn liền với đất đai, nhà, công trình xây dựng; tài sản khác theo quy định của pháp luật”, “Động sản là những tài sản không phải là bất động sản”. Bất động sản, theo quy định tại khoản 2 điều 105 và khoản 1 điều 107 Bộ luật dân sự 2015 thì bất động sản là các tài sản không di dời được. Bao gồm đất đai, nhà, công trình xây dựng gắn liền với đất đai, tài sản khác gắn liền với đất đai, nhà, công trình xây dựng, tài sản khác theo quy định của pháp luật.
Kinh doanh bất động sản, theo khoản 1 điều 3 Luật kinh doanh bất động sản 2014, là việc đầu tư vốn để thực hiện hoạt động xây dựng, mua, nhận chuyển nhượng để bán, chuyển nhượng; cho thuê, cho thuê lại, cho thuê mua bất động sản; thực hiện dịch vụ môi giới bất động sản; dịch vụ sàn giao dịch bất động sản; dịch vụ tư vấn bất động sản hoặc quản lý bất động sản nhằm mục đích sinh lợi. Dự án đầu tư là một tập hợp các hoạt động có liên quan với nhau được kế hoạch hoá nhằm đạt được các mục tiêu đã định bằng việc tạo ra các kết quả 6 cụ thể trong một thời gian nhất định, thông qua việc sử dụng các nguồn lực xác định. Là cơ sở để cơ quan nhà nước có thẩm quyền tiến hành các biện pháp quản lý, cấp phép đầu tư. Nó là căn cứ để nhà đầu tư triển khai hoạt động đầu tư và đánh giá hiệu quả của dự án và tổ chức tín dụng cấp vốn cho dự án.
Trong hoạt động tín dụng, dự án đầu tư là căn cứ để nhà đầu tư triển khai hoạt động đầu tư và đánh giá hiệu quả của dự án và tổ chức tín dụng cấp vốn cho dự án. Hiện nay, ở Việt Nam có rất nhiều quan niệm khác nhau về đầu tư kinh doanh bất động sản. Tuy nhiên, trong phạm vi luận văn này, dựa trên cơ sở nghiên cứu lý luận, tác giả nêu một số quan điểm điển hình như sau: Quan điểm thứ nhất, Đầu tư kinh doanh bất động sản 1, tr.10 là dùng lượng tiền, vàng để mua bất động sản và bán ra thị trường vào thời điểm khác với giá chênh lệch gọi là đầu tư mua bán. Trường hợp đầu tư bằng cách sửa chữa, xây nhà để bán được gọi là đầu tư gia tăng giá trị bất động sản.
Quan điểm thứ hai, Đầu tư kinh doanh bất động sản 2, tr.1 là hoạt động bỏ vốn đầu tư để tạo lập ra hàng hóa là bất động sản nhằm mục đích bán, cho thuê hàng hóa đó ra thị trường. Quan điểm thứ ba, Đầu tư kinh doanh bất động sản 35, tr.1 là việc bỏ vốn đầu tư, tạo lập, mua, nhận chuyển nhượng, thuê, thuê mua bất động sản để bán, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, cho thuê mua nhằm mục đích sinh lời cao,. Những quan điểm và phân tích nêu trên, Dự án đầu tư kinh doanh bất động sản có thể được hiểu là việc nhà đầu tư đầu tư vốn để thực hiện hoạt động xây dựng, mua, nhận chuyển nhượng để bán, chuyển nhượng; cho thuê, cho thuê lại, cho thuê mua. bất động sản nhằm mục đích sinh lợi hay hưởng chênh lệch lợi nhuận.
Nói cách khác, trên một khu đất sẵn có, thuộc sở hữu/ sử dụng của mình, nhà đầu tư phải lựa chọn mô hình đầu tư tối ưu trong số 7 các mô hình như Dự án nhà ở (gồm căn hộ, chung cư, biệt thự, nhà liên kế, đất nền), Dự án văn phòng (gồm văn phòng, cao ốc cho thuê, nhà xưởng, nhà kho),. và quản lý khai thác hiệu quả mô hình (còn gọi là dự án kinh doanh bất động sản) đã chọn nhằm mục đích sinh lời. Từ góc nhìn của pháp luật thực định, thế chấp là việc dùng tài sản để bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ dân sự và nghĩa vụ đó có thể là nghĩa vụ của chính mình (của chính bên thế chấp) hoặc của người khác (không phải của bên thế chấp); đối tượng của thế chấp tài sản là tài sản bất kì nhưng phải là tài sản trị giá được thành tiền và được phép giao dịch, có thể là tài sản hiện có hoặc tài sản hình thành trong tương lai mà pháp luật không cấm giao dịch 32, tr. Từ cách hiểu này thì “hoạt động đầu tư vốn của các chủ đầu tư để thực hiện dự án kinh doanh bất động sản”, kết quả là sản phẩm của dự án đó sẽ, đang hình thành (có thể là căn hộ, căn biệt thự hay nhà liên kế,.) và nó được xem là đối tượng thế chấp tài sản.
Đặc điểm cơ bản và phân loại của dự án đầu tư kinh doanh bất động sản Hiện nay, ở Việt Nam, căn cứ vào đặc điểm hoạt động kinh doanh và sản phẩm thì dự án đầu tư kinh doanh bất động sản được chia thành các nhóm dự án sau: Dự án nhà ở (gồm căn hộ, chung cư, biệt thự, nhà liên kế, đất nền); Dự án văn phòng (gồm văn phòng, cao ốc cho thuê, nhà xưởng, nhà kho); Dự án khu công nghiệp, khu chế xuất; Dự án trung tâm thương mại. Về bản chất, hoạt động đầu tư kinh doanh bất động sản cũng có những đặc điểm tương tự như đặc điểm của dự án đầu tư phát triển như chủ đầu tư đầu tư vốn để thực hiện hoạt động xây dựng; mua; nhận chuyển nhượng để 8 bán; chuyển nhượng; cho thuê; cho thuê lại; cho thuê mua,… nhằm mục đích sinh lời cao. Ngoài những đặc điểm trên, dự án đầu tư kinh doanh bất động sản có những đặc điểm riêng: Thứ nhất, Sản phẩm của dự án gắn liền với quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất nên sản phẩm của dự án là dạng tài sản bất động sản. Thứ hai, Đầu tư xây dựng các công trình trên đất để tạo ra các sản phẩm bất động sản là quyền sử dụng đất, công trình trên đất (tài sản gắn liền với đất).
Thứ ba, Đối với một số hoạt động (trừ cho thuê) thì bất động sản được dịch chuyển quyền sở hữu từ chủ đầu tư dự án chuyển giao cho người mua (người nhận chuyển nhượng). Đặc điểm này khác biệt rất lớn so với các dự án kinh doanh khác. Thứ tư, Việc sinh lời của dự án phát sinh từ các giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất sau khi đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, bán, cho thuê, cho thuê mua các tài sản gắn liền với đất. Trong một số trường hợp nhất định, chủ đầu tư được thực hiện giao dịch mua bán, chuyển nhượng,.
trước khi sản phẩm hoàn thành và đưa vào sử dụng. Thứ năm, Hoạt động đầu tư kinh doanh bất động sản chứa đựng nhiều yếu tố kinh tế xã hội đan xen, theo đó, nó không chỉ phụ thuộc vào chính sách quản lý đầu tư của Nhà nước mà còn phụ thuộc nhiều vào yếu tố xã hội, tâm lý, tập quán của người dân. Quy định đối với chủ thể (doanh nghiệp) được đầu tư kinh doanh bất động sản theo pháp luật Việt nam Lĩnh vực kinh doanh bất động sản đã hình thành, phát triển rất mạnh mẽ và nhanh chóng. Với những đặc điểm riêng của mình, kinh doanh bất động sản đem lại những khoản lợi nhuận khổng lồ cho các nhà đầu tư, kinh doanh; như các hoạt động mua bán, cho thuê, thế chấp… Tuy nhiên, không 9 phải bất cứ một tổ chức hay cá nhân nào cũng được tham gia kinh doanh bất động sản mà phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện theo luật định.
Tính đến thời điểm hiện tại, luật kinh doanh bất động sản năm 2014, đã có hiệu lực được 03 năm, phần nào đã khẳng định được giá trị thực tiễn và giá trị pháp lý (cụ thể và chặt chẽ). Cụ thể, quy định tại điều 10 Luật kinh doanh bất động sản năm 2014 về điều kiện của tổ chức, cá nhân kinh doanh bất động sản: “1. Tổ chức, cá nhân kinh doanh bất động sản phải thành lập doanh nghiệp hoặc hợp tác xã (sau đây gọi chung là doanh nghiệp) và có vốn pháp định không được thấp hơn 20 tỷ đồng, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 điều này. Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân bán, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê mua bất động sản quy mô nhỏ, không thường xuyên thì không phải thành lập doanh nghiệp nhưng phải kê khai nộp thuế theo quy định của pháp luật.” Như vậy, các tổ chức và cá nhân muốn kinh doanh bất động sản thì phải Thứ nhất, điều kiện đối với các chủ thể kinh doanh bất động sản: - Phải thành lập doanh nghiệp theo quy định của pháp luật về doanh nghiệp hoặc hợp tác xã theo quy định của pháp luật về hợp tác xã (sau đây gọi chung là doanh nghiệp) - Phải có vốn pháp định không được thấp hơn 20 tỷ đồng (quy định về vốn pháp định của doanh nghiệp kinh doanh bất động sản theo luật kinh doanh bất động sản 2006 và các văn bản hướng dẫn thi hành là 06 tỷ đồng) và chịu trách nhiệm về tính trung thực, chính xác của số vốn pháp định.
Mức vốn pháp định này được xác định căn cứ vào số vốn điều lệ của doanh nghiệp, hợp tác xã theo quy định của pháp luật về doanh nghiệp, pháp luật về hợp tác xã. Doanh nghiệp, hợp tác xã không phải làm thủ tục đăng ký xác nhận về mức vốn pháp định. 10 - Đăng ký ngành nghề kinh doanh (kinh doanh bất động sản) theo quy định của pháp luật.