phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1. Những vấn đề lý luận cơ bản về thẩm quyền của Tòa án trong Tƣ pháp quốc tế Chƣơng 2. Thực trạng pháp luật Việt Nam về thẩm quyền của Tòa án trong Tƣ pháp quốc tế Chƣơng 3. Hoàn thiện pháp luật Việt Nam về xác định thẩm quyền của Tòa án trong Tƣ pháp quốc tế.
4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ THẨM QUYỀN CỦA TOÀ ÁN TRONG TƢ PHÁP QUỐC TẾ 1. Khái niệm thẩm quyền của Toà án trong Tƣ pháp quốc tế 1. Khái niệm thẩm quyền của Toà án 1. Khái niệm thẩm quyền Theo từ điển tiếng Việt “Thẩm quyền” đƣợc hiểu là quyền xem xét để kết luận và định đoạt một số vấn đề theo pháp luật [35, tr.
“Thẩm quyền” là một khái niệm quan trọng, trung tâm của khoa học pháp lý. Có thể nói, không có thuật ngữ nào đƣợc sử dụng phổ biến trong pháp luật nhƣ thuật ngữ “thẩm quyền”. Trong pháp luật nƣớc ngoài, chúng ta còn thƣờng gặp thuật ngữ thẩm quyền ngay trong tên các văn bản pháp luật, nhất là về tổ chức bộ máy nhà nƣớc, bởi vì nội dung các văn bản đó thực chất là các quy định về thẩm quyền. Tuy vậy, ngay trong văn bản pháp luật nƣớc ngoài, thƣờng cũng không có định nghĩa khái niệm thẩm quyền, mặc dù thực chất vấn đề là quy định về thẩm quyền.
Ở nƣớc ta cũng có tình trạng đó. Có lẽ một phần do sự phức tạp của khái niệm này nên khó đƣa ra một định nghĩa đầy đủ về nó, tuy các quy định về thẩm quyền chiếm tỉ trọng lớn trong hệ thống văn bản pháp luật và có vị trí đặc biệt quan trọng. Là khái niệm quan trọng và rất phổ biến, nhƣng kể từ những năm 80 đến nay – những năm nền khoa học pháp lý của Việt Nam mới bắt đầu hình thành và phát triển, và cả thời kỳ đẩy mạnh cải cách hành chính hơn mƣời năm trở lại đây, chƣa có bài viết nào riêng về khái niệm “thẩm quyền”, dù dƣới dạng đơn giản nhất. Trong khoa học pháp lý càng thấy rõ sự thiếu hụt những nghiên cứu cơ bản, hay những giới thiệu nghiêm túc các khái niệm cơ bản, nền tảng đã đƣợc khoa học pháp lý thế giới nghiên cứu kỹ lƣỡng từ rất 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com lâu và cập nhật vào thực tiễn khoa học pháp lý và quản lý nƣớc nhà, trong đó có khái niệm “thẩm quyền”.
Nhiều bất cập trong các quy định pháp luật về thẩm quyền nói chung và về phân cấp quản lý nói riêng, có nhiều nguyên nhân, nhƣng có khi chỉ do một nguyên nhân đơn giản là không nắm vững khái niệm thẩm quyền và phƣơng pháp phân định thẩm quyền giữa các cơ quan nhà nƣớc. Trong khoa học pháp lý, "thẩm quyền" thƣờng đƣợc hiểu là phạm vi các quyền hạn của cơ quan hoặc ngƣời có chức vụ nào đó, hay nói cách khác là thẩm quyền pháp lý. "Thẩm quyền" với nghĩa thẩm quyền pháp lý cũng không đơn nhất. Do tính phức tạp và tồn tại nhiều khái niệm gần gũi, quan hệ chặt chẽ với nó, nên có rất nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm thẩm quyền.
Trong bài viết với tiêu đề “tính hệ thống của thẩm quyền” tạp chí nghiên cứu lập pháp tháng 9 năm 2005, Tiến sĩ Nguyễn Cửu Việt đã nêu 09 quan điểm của các học giả Xô Viết và Việt Nam về khái niệm thẩm quyền, trên cơ sở đó, đã đi đến kết luận “thẩm quyền là một hiện tƣợng nhà nƣớc - quyền lực và pháp lý phức tạp có nội dung chức năng và vỏ bọc pháp lý, là một hệ thống (chứ không phải là một tập hợp giản đơn) các yếu tố cấu thành bao gồm hai nhóm lớn sau đây: i) Một là, các quyền và nghĩa vụ để thực hiện các chức năng nhất định mà cơ quan nhà nƣớc đƣợc trao để giải quyết những vấn đề, quản lý những đối tƣợng/khách thể nhất định trong những lĩnh vực nhất định của đời sống nhằm đạt những nhiệm vụ nhất định; ii) Hai là, các quyền hạn cụ thể để thực hiện các quyền và nghĩa vụ chung nói trên (là quyền thực hiện các hình thức hoạt động cụ thể nhƣ ban hành hay tham gia vào việc ban hành quyết định, quyền đình chỉ, sửa đổi hay bãi bỏ quyết định, quyền áp dụng các biện pháp cƣỡng chế,. 2cùng cấp (ví dụ giữa Quốc hội, Chính Phủ, Tòa án, Viện kiểm sát…), Tòa án các cấp khác nhau (Tòa án nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án nhân dân cấp 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com huyện…), giữa các đơn vị trong cùng một Tòa án (Tòa dân sự, Tòa kinh tế, Tòa lao động, Tòa hình sự…), giữa quân sự và dân sự (Tòa án nhân dân và Tòa án quân sự), với các loại cơ quan cùng thực hiện quyền lực tƣ pháp (Tòa án, Viện kiểm sát…). Tuy nhiên, ở bình diện quốc tế, nKhi cùng một vụ việc có liên quan đến nhiều quốc gia thì vấn đề thẩm quyền của quốc gia nào cũng cần phải đặt ra. Với cách tiếp cận này thì có lẽ quan điểm về thẩm quyền của Tiến sĩ Nguyễn Cửu Việt mới chỉ trong phạm vi quốc gia.
Và nhƣ vậy, việc nghiên cứu vấn đề thẩm quyền để thực hiện quyền tƣ pháp của nhà nƣớc trong quan hệ giữa các quốc gia là không thể không làm, đặc biệt đối với Toà án. Theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện nay thì quyền tƣ pháp đƣợc giao cho Tòa án thực hiện là chủ yếu. Nhƣ vậy, có thể đi đến kết luận, Thẩm quyền là quyền năng pháp lý xuất phát từ quyền lực nhà nƣớc (quyền lực lập pháp, quyền lực hành pháp và quyền lực tƣ pháp) đƣợc xác định theo quy định của pháp luật, đối với (những) vụ việc/lĩnh vực nhất định. Thẩm quyền của Toà án Theo Từ điển tiếng Việt thì Tòa án là cơ quan nhà nƣớc có nhiệm vụ xét xử các vụ phạm pháp, kiện tụng.
1002] Tòa án là cơ quan xét xử của nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam [11, đ. Trong quá trình giải quyết các vụ việc dân sự, Tòa án nhân danh Nhà nƣớc ra các phán quyết bảo đảm cho quyền, lợi ích của các cá nhân, cơ quan, tổ chức và lợi ích của nhà nƣớc. Trong phạm vi chức năng của mình, Tòa án có nhiệm vụ bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ của nhân dân, bảo vệ tài sản của Nhà nƣớc, của tập thể, bảo vệ tính mạng, tài sản, tự do, danh dự và nhân phẩm của công dân. Bằng hoạt động của mình, Tòa án góp phần giáo dục công dân trung thành với Tổ quốc, chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật, tôn trọng những quy tắc của 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com cuộc sống xã hội, ý thức đấu tranh chống và phòng ngừa tội phạm, các vi phạm pháp luật khác [37, đ.
Ở nƣớc Công hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam có các Tòa án sau đây: Tòa án nhân dân tối cao; Các Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ƣơng; Các Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh; Các Tòa án quân sự; Các Tòa án khác do luật định. Trong trƣờng hợp đặc biệt, Quốc hội có thể quyết định thành lập Tòa án đặc biệt [14, đ. Nhƣ vậy, trong hệ thống Tòa án của Việt Nam có Tòa án nhân dân các cấp, Tòa án quân sự các cấp và các Tòa án khác do luật định hoặc trong trƣờng hợp đặc biệt Quốc hội có thể thành lập Tòa án đặc biệt và chỉ có Tòa án mới là cơ quan xét xử, từ hình sự, hành chính đến dân sự (theo nghĩa rộng). Do Tòa án quân sự có đặc thù riêng theo quy định tại Điều 3 Pháp lệnh tổ chức Tòa án quân sự, có thẩm quyền xét xử những vụ án hình sự mà bị cáo là quân nhân tại ngũ, công chức, công nhân quốc phòng, quân nhân dự bị trong thời gian tập trung huấn luyện hoặc kiểm tra tình trạng sẵn sàng chiến đấu; dân quân, tự vệ phối thuộc với Quân đội trong chiến đấu, phục vụ chiến đấu và những ngƣời đƣợc trƣng tập làm nhiệm vụ quân sự do các đơn vị quân đội trực tiếp quản lý; hoặc những người khác phạm tội có liên quan đến bí mật quân sự hoặc gây thiệt hại cho Quân đội, nên Tòa án mà tác giả nghiên cứu ở đây là Tòa án nhân dân.
Tòa án nhân dân là cơ quan trong bộ máy nhà nƣớc có chức năng bảo vệ xã hội, bảo vệ pháp chế, bảo vệ tính mạng, tài sản, tự do, danh dự và nhân phẩm của nhân dân. Để việc giải quyết vụ việc đƣợc thuận tiện, khách quan thì việc nghiên cứu thẩm quyền của tòa án là hoàn toàn phù hợp về lý luận cũng nhƣ thực tiễn và cũng là điều kiện để bảo đảm trật tự pháp luật và pháp chế, tránh sự trùng lặp trong hoạt động giữa các cấp, các ngành; bên cạnh đó, việc nghiên cứu thẩm quyền của tòa án còn bao gồm việc xem xét Tòa án của 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Việt Nam có thẩm quyền giải quyết hay không hay là thuộc thẩm quyền của Tòa án nƣớc ngoài khác. Tức là việc xác định thẩm quyền của tòa án về thực chất là tránh sự trùng lặp/xung đột thẩm quyền giải quyết vụ việc giữa các cấp, các ngành và cả giữa các quốc gia. Xác định thẩm quyền là công việc bắt buộc của Tòa án.
Cụ thể là xem xét tính hợp pháp của đơn khởi kiện hay đơn yêu cầu cùng các tài liêu chứng cứ chứng minh để quyết định trả lại đơn hoặc thụ lý vụ việc. Nếu bỏ quan công việc này sẽ ảnh hƣởng đến công tác giải quyết vì quyết định giải quyết vụ việc của Tòa án chỉ có giá trị pháp lý khi Tòa án giải quyết đúng thẩm quyền. Xác định thẩm quyền của Tòa án là việc làm quan trọng và có tính liên tục, bởi nó đƣợc đặt ra không những ở giai đoạn thụ lý vụ án mà còn ở các giai đoạn sau nhƣ giai đoạn chuẩn bị xét xử hay xét xử tại phiên tòa. Ngoài ra, tính liên tục còn đƣợc thực hiện ở các cấp xét xử trong trƣờng hợp vụ việc bị kháng cáo, kháng nghị, Tòa án luôn phải kiểm tra lại thẩm quyền giải quyết vụ việc đúng hay chƣa.