CHƯƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VÈ THẨM QUYỀN GIẢI QUYẾT VỤ ÁN DÂN sụ CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN CÁP HUYỆN 1. Khái niệm và ý nghĩa của thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự của Tòa án nhân dân cấp huyện 1. Khái niệm thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự cùa Tòa án nhân dân cấp huyện Trong lịch sử hình thành và phát triển xã hội loài người từ xưa đến nay, quyền lực luôn là vấn đề được quan tâm và tranh luận nhiều, đặc biệt là quyền lực Nhà nước.
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê nin: "Nhà nước là sản phẩm và biểu hiện của những mâu thuẫn giai cấp không thê điều hòa được" [6]. Nhà nước được xây dựng từ khế ước xã hội để bảo vệ quyền con người. Nhà nước ra đời với chức năng chủ yếu là điều hòa xã hội, duy trì sự ồn định và phát triển của xã hội theo một trật tự nhất định. Một trong những công cụ hiệu quả nhất để thực hiện quyền lực Nhà nước là pháp luật.
Pháp luật của Nhà nước là sự tối thượng nhưng suy cho cùng nó cũng không thế tách rời hai từ “công lý”, trọng trách quan trọng và cao cả bậc nhất của pháp luật là đế thiết lập, duy trì và bảo vệ sự công bằng xã hội. Từ thời cổ đại, các luật gia La Mã đã khẳng định: ở đâu có pháp luật, ở đó phải có hệ thống bảo đảm cho luật pháp được thi hành một cách nghiêm chỉnh. Trong quá trình hoạt động, để thực hiện tốt chức năng vốn có, Nhà nước không thể tự mình làm tất cả mọi công việc mà phải trao quyền cho một số cơ quan chuyên môn để các cơ quan này nhân danh nhà nước tham gia vào việc quản lí xã hội. Do đó, để thực hiện nhiệm vụ được giao, mỗi cơ quan trong bộ máy nhà nước phải được trao những quyền hạn nhất định, đó là tiền đề làm xuất hiện thẩm quyền.
Thuật ngữ “thẩm quyền” theo nghĩa nguyên thủy bắt nguồn từ tiếng La tinh là “compotentia”, gồm có hai nghĩa là, phạm vi các quyền hạn của các cơ 6 quan, người có chức vụ nào đó, hoặc phạm vi những kiên thức, kinh nghiệm mà ai đó có. Ý nghĩa đầu trong khoa học pháp lý và quản lí thường được hiểu bằng thuật ngữ “thẩm quyền pháp lý”, ý nghĩa thứ hai là “thẩm quyền chuyên môn”. Trong phạm vi của luận văn này, tác giả xin trình bày thẩm quyền với nghĩa là thẩm quyền pháp lí. Dưới góc độ ngôn ngữ học, từ điển Tiếng Việt định nghĩa “thẩm quyền” là quyền xem xét để kết luận và định đoạt một vấn đề pháp luật [25], Theo cách giải nghĩa này, thấm quyền được hiểu là việc một cơ quan Nhà nước được phép tự minh nhìn nhận sự việc và đưa ra ý kiến riêng để giải quyết vấn đề một cách phù hợp theo quy định của pháp luật.
Theo từ điển Luật học Việt Nam, “thẩm quyền ” là tông hợp các quyền và nghĩa vụ hành động, quyết định của các cơ quan, tổ chức thuộc hệ thống bộ máy Nhà nước do pháp luật quy định [27], Cách định nghĩa này cho thấy, thẩm quyền được hiểu là phạm vi mà Nhà nước trao quyền cho một cơ quan, tổ chức của Nhà nước và phạm vi đó phải được pháp luật xác định một cách rõ ràng. Theo Từ điển luật học của Mỹ thì thẩm quyền được hiểu là một cơ quan công quyền có thể được xem xét và giải quyết một việc gì theo pháp luật khi nó cỏ một khả năng cơ bản và tối thiểu. Theo khái niệm này, thẩm quyền được gắn chặt với khả năng của cơ quan công quyền khi thực hiện việc xem xét, giải quyết một vấn đề nào đó. Trong khoa học pháp lý, khái niệm thấm quyền đã được nhiều tác giả nghiên cứu.
Theo tác giả Lê Hoài Nam: “Thầm quyền là quyền được thực hiện những hành vi pháp lý mà pháp luật giao cho một tô chức hoặc nhân viên Nhà nước. Nói khác đi, thâm quyền là quyền của một chủ thê nhất định, đó là khá năng mà pháp luật cho phép được thực hiện một công việc trong một lĩnh vực, một phạm vỉ nhất định” [13]. Theo tác giả Lê Thị Hà: “Thâm quyền là 7 tổng hợp các quyền mà pháp luật quy định cho một cơ quan, tổ chức hoặc một công chức được xem xét giải quyết những công việc cụ thê trong lĩnh vực và phạm vi nhất định nhằm thực hiện chức năng của hộ máy nhà nước" [6]. Như vậy, dưới những góc độ khác nhau, khái niệm “thẩm quyền” cũng có sự khác biệt nhất định, nhưng nhìn chung các cách giải thích đều thừa nhận thấm quyền là thuật ngữ dùng để chỉ phạm vi, giới hạn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của cá nhân hoặc cơ quan Nhà nước trong việc thực thi quyền lực Nhà nước được pháp luật quy định.
Ở Việt Nam, xuất phát từ những đặc thù về tổ chức hệ thông toà án cho nên quan niệm về thấm quyền của toà án trong tố tụng dân sự cũng có những điểm khác biệt. Khái niệm về thẩm quyền của toà án được tiếp cận dưới ba góc độ là thẩm quyền theo loại việc, thẩm quyền của toà án các cấp và thẩm quyền của toà án theo lãnh thổ. Tòa án là cơ quan xét xử của Nhà nước, thực hiện một trong các lĩnh vực quyền lực Nhà nước đó là quyền tư pháp. TA có thẩm quyền xét xử và nhân danh Nhà nước đế ra bản án hoặc quyết định giải quyết vụ án nhằm bảo vệ chế độ XHCN, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức, lợi ích của Nhà nước.
Trong TTDS, theo TS. Lê Thị Hà thì thẩm quyền của TA là ‘'"toàn hộ những quyền do pháp luật quy định theo đó TA tiến hành xem xét, giải quyết những vụ việc cụ thể theo quy định của pháp luật" [6]. Trong tố tụng hình sự, TS. Nguyễn Đức Mai quan niệm thẩm quyền của TA là một thể thống nhất bao gồm hai yếu tố có liên quan chặt chẽ với nhau đó là thẩm quyền về hình thức và thẩm quyền về nội dung.
Thấm quyền về hình thức của TA được thế hiện ở thẩm quyền xét xử và giới hạn (phạm vi) xét xử của các cấp TA đối với các vụ án. Thẩm quyền về nội dung (hay quyền hạn) của TA xác định TA có quyền quyết định các vấn đề cụ thể về các vụ án khi 8 xem xét chúng [12]. Trong tô tụng hành chính, thâm quyên của TA là “phạm vi thực hiện quyền lực Nhà nước của TA trong việc giải quyết các tranh chấp hành chính giữa một bên là công dãn, tô chức và bên kia là cơ quan công quyền, theo thủ tục tố tụng hành chính nhằm bảo đảm và bảo vệ lợi ích của Nhà nước, của xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân” [31]. Như vậy, có thể thấy rằng, các tác giá đều thừa nhận thẩm quyền của TA bao gồm các quyền khác nhau của TA khi giải quyết vụ việc, đó là TA sẽ xác định cụ thể những loại vụ việc nào thuộc thẩm quyền giải quyết của TA và TA có quyền ra những quyết định gì khi giải quyết vụ việc đó.
Điều 1 BLTTDS 2015 quy định: “Bộ luật tổ tụng dân sự quy định những nguyên tắc cơ bản trong tố tụng dân sự; trình tự, thủ tục khởi kiện đê Toà án nhân dân (sau đây gọi là Toà án) giải quyết các vụ án về tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động (sau đây gọi chung là vụ án dân sự) và trình tự, thủ tục yêu cầu đê Toà án giải quyết các việc về yêu cầu dãn sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động (sau đây gọi chung là việc dân sự); trình tự, thủ tục giải quyết vụ án dãn sự, việc dãn sự (sau dãy gọi chung là vụ• việc • dãn sự) • / tại • Toà án .” Với quy định này, phạm vi điều chỉnh của BLTTDS là vụ việc dân sự, gồm vụ án dân sự và việc dân sự. Vụ án dân sự là vụ có tranh chấp về quyền lợi, nghĩa vụ giữa cá nhân, tổ chức với nhau. Các tranh chấp gồm tranh chấp dân sự, tranh chấp hôn nhân và gia đình, tranh chấp kinh doanh thương mại, tranh chấp lao động. Khi một tranh chấp dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án, được đương sự yêu cầu Tòa án giải quyết sẽ trở thành vụ án dân sự.
Việc dân sự là việc không có tranh chấp về quyền và lợi ích nhưng có yêu cầu của cá nhân, tồ chức đề nghị Tòa án công nhận một sự kiện pháp lý mà 9 phát sinh quyên và nghĩa vụ của các cá nhân, tô chức này. Tât cả các việc yêu cầu về dân sự, các việc yêu càu về hôn nhân và gia đình, các việc yêu cầu về kinh doanh thương mại, các việc yêu cầu về lao động đều được gọi chung là các việc dân sự. Trong phạm vi luận văn này, luận văn nghiên cứu thâm quyên chung của Tòa án về dân sự theo nghĩa rộng như quy định tại BLTTDS nhưng chỉ giới hạn trong các vụ án dân sự, không gồm các việc dân sự. Cụ thể là: thẩm quyền của Tòa án trong các vụ án về dân sự, các vụ án hôn nhân và gia đình, các vụ án kinh doanh thương mại, các vụ án lao động.
Theo Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014, khi thực hiện thẩm quyền xét xử dân sự, Tòa án thực hiện theo nguyên tắc chế độ xét xử sơ thẩm và xét xử phúc thẩm. Là cấp xét xử đầu tiên, xét xử sơ thẩm dân sự có ý nghĩa quan trọng và gần như mang tính quyết định trong toàn bộ tiến trình một vụ án. Theo Từ điển Tiếng Việt thì: “Sơ thẩm” là xét xừ một vụ án với tư cách là cấp xét xừ thấp nhất [26], Theo sổ tay thuật ngữ pháp lý thông dụng thì “Sơ thẩm” là việc Tòa án xét xử lần đầu một vụ án [23]. Pháp luật tố tụng dân sự không đưa ra khái niệm về thẩm quyền xét xử sơ thẩm các vụ việc dân sự của Tòa án nhưng dưới góc độ lý luận có thể đưa ra khái niệm này như sau: “Thẩm quyền xét xử sơ thâm các vụ việc dân sự của Tòa án là quyền của Tòa án trong việc xem xét giải quyết lần đầu đối với các vụ việc dân sự”.
Xét xử ở cấp sơ thẩm đúng luật và có căn cứ là cơ sở để vụ án không bị kháng cáo, kháng nghị tới thủ tục phúc thấm, hạn chế được việc kéo dài vụ án cũng như tổn phí vật chất cho cả Tòa án và đương sự.