Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ luật học với đề tài "Thẩm quyền của Tòa án nhân dân trong việc giải quyết các khiếu kiện hành chính" tập trung giải quyết các vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến quyền tài phán hành chính của Tòa án nhân dân trong cấu trúc bộ máy nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Báo cáo chính trị của Đảng Cộng sản Việt Nam tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX khẳng định: "Nhà nước ta là công cụ chủ yếu để thực hiện quyền làm chủ của nhân dân, là nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân" và nguyên tắc tổ chức quyền lực nhà nước là "thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp". Chiến lược cải cách tư pháp đặt ra yêu cầu cấp bách về củng cố, kiện toàn cơ quan tư pháp và phân định lại thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân theo tinh thần Nghị quyết 8 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VII, Đại hội VIII và Đại hội IX.

Trên phương diện lập pháp, Nhà nước đã ban hành Luật Khiếu nại, tố cáo năm 1998, Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án hành chính năm 1996 (được sửa đổi, bổ sung năm 1998) và Luật Tổ chức Tòa án nhân dân sửa đổi năm 1995 (thành lập Tòa hành chính từ ngày 01/7/1996). Sau 5 năm triển khai thực tế, tình hình khiếu nại, tố cáo của công dân gia tăng nhanh chóng, phức tạp ở các lĩnh vực nhà đất, thuế, xử phạt vi phạm hành chính với nhiều vụ khiếu kiện tập thể; trong đó 80% khiếu nại phát sinh từ cơ sở không được giải quyết kịp thời, tạo ra các "điểm nóng". Tuy nhiên, số lượng án hành chính được thụ lý tại Tòa án nhân dân lại rất thấp, không phản ánh đúng thực trạng tranh chấp hành chính; đại đa số Tòa án nhân dân cấp huyện không thụ lý vụ án nào, dẫn tới tình trạng "nhàn nhã" mang tính hình thức.

Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định: Trước thời điểm đề tài thực hiện, các công trình đã công bố chỉ tiếp cận thẩm quyền xét xử hành chính ở từng khía cạnh riêng lẻ hoặc dưới dạng chuyên đề so sánh, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách tập trung, toàn diện và có hệ thống về thẩm quyền xét xử hành chính của Tòa án nhân dân tại Việt Nam.

Mục tiêu nghiên cứu

Luận án xác định 3 mục tiêu cụ thể:

  1. Làm rõ cơ sở lý luận về thẩm quyền giải quyết các khiếu kiện hành chính của Tòa án nhân dân.
  2. Nghiên cứu làm sáng tỏ nội dung, tính chất thẩm quyền giải quyết khiếu kiện hành chính; nghiên cứu làm rõ các loại, các biểu hiện cụ thể của thẩm quyền giải quyết khiếu kiện hành chính của Tòa án nhân dân.
  3. Đề xuất các phương hướng nhằm hoàn thiện theo hướng mở rộng thẩm quyền giải quyết khiếu kiện hành chính của Tòa án nhân dân.

Nhiệm vụ nghiên cứu

Luận án thực hiện 3 nhiệm vụ khoa học:

  1. Hệ thống cơ sở lý luận, quan niệm, quan điểm khoa học nhận thức chung về thẩm quyền của tòa án trong việc giải quyết vụ án hành chính; xây dựng và trình bày khái niệm thẩm quyền giải quyết khiếu kiện hành chính của Tòa án nhân dân.
  2. Phân tích làm rõ các nội dung, trình bày hệ thống các hoạt động thuộc thẩm quyền của tòa án; phân tích các loại thẩm quyền giải quyết vụ án hành chính; đối chiếu với thực trạng pháp lý và thực tiễn thực hiện thẩm quyền của tòa án trong 5 năm (1996–2001) để xác định vướng mắc, hạn chế, nguyên nhân và rút ra bài học kinh nghiệm.
  3. Phân tích các phương hướng đổi mới và hoàn thiện quy định pháp luật về thẩm quyền giải quyết án hành chính của Tòa án nhân dân, hướng tới xây dựng một văn bản luật về thủ tục giải quyết các vụ án hành chính.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Thẩm quyền của Tòa án nhân dân trong việc giải quyết các khiếu kiện hành chính (tài phán hành chính), bao gồm phương diện lý luận, quy định của pháp luật thực định và thực tiễn áp dụng.
  • Phạm vi không gian: Hệ thống Tòa án nhân dân các cấp tại Việt Nam (Tòa án nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án nhân dân cấp huyện), có đối chiếu kinh nghiệm tài phán hành chính của một số quốc gia như Cộng hòa Pháp, Cộng hòa Liên bang Đức.
  • Phạm vi thời gian: Quá trình hình thành và phát triển của pháp luật khiếu nại, tố cáo và tài phán hành chính từ năm 1958 đến thời điểm nghiên cứu, trọng tâm là giai đoạn 5 năm thực hiện xét xử hành chính từ ngày 01/7/1996 đến năm 2001.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án tiến hành điểm luận và phân loại các công trình khoa học trong nước liên quan trực tiếp đến thẩm quyền xét xử hành chính của Tòa án nhân dân.

Tác giả / Cơ quan thực hiện Tên công trình / Đề tài Hình thức công bố / Nhà xuất bản Năm công bố
Thanh tra Nhà nước Tòa án hành chính, những vấn đề lý luận và thực tiễn (Mã số: 95-98-406/DT) Đề tài khoa học cấp nhà nước 1997
Học viện Hành chính Quốc gia Thiết lập tài phán hành chính ở nước ta Sách chuyên khảo, Nxb Giáo dục, Hà Nội 1995
Đinh Văn Minh Tài phán hành chính so sánh Sách chuyên khảo, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 1995
Nguyễn Thanh Bình Tìm hiểu pháp luật tố tụng hành chính Sách chuyên khảo, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh 1997
TS. Phạm Hồng Thái & TS. Đinh Văn Mậu Tài phán hành chính ở Việt Nam Sách chuyên khảo, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 1994
GS.TSKH Đào Trí Úc Những vấn đề đổi mới hệ thống tư pháp ở nước ta In trong sách Đại hội VIII Đảng Cộng sản Việt Nam và những vấn đề cấp bách của khoa học về nhà nước và pháp luật, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội 1997
PGS.TS Bùi Xuân Đức Tư pháp hành chính và vấn đề tổ chức tư pháp hành chính ở nước ta hiện nay Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 1 1993
PGS.TS Bùi Xuân Đức Phân định tài phán hành chính và tư pháp hành chính Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 4 1995

Vị trí và khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết

Tác giả khẳng định các công trình, bài viết trên xuất phát từ những mục đích, yêu cầu nghiên cứu khác nhau nên chỉ giới hạn ở các khía cạnh tổ chức bộ máy, so sánh thể chế hoặc đánh giá khái quát thực trạng tài phán hành chính. Chưa có công trình nào nghiên cứu một cách tập trung, toàn diện và có hệ thống về thẩm quyền xét xử hành chính của Tòa án nhân dân. Luận án tự định vị là công trình khoa học đầu tiên giải quyết trọn vẹn từ cơ sở lý luận, khái niệm, tiêu chí phân định thẩm quyền đến thực trạng và định hướng mở rộng thẩm quyền giải quyết án hành chính tại Việt Nam.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý luận và khung khái niệm

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên các nền tảng lý thuyết:

  1. Chủ nghĩa Mác - Lênin về nhà nước và pháp luật: Về vai trò của nhà nước và pháp luật trong bảo vệ quyền con người, quyền và tự do của công dân; vị trí trung tâm của tòa án trong thực thi quyền tư pháp.
  2. Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam: Về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân; nguyên tắc quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp; các chủ trương về cải cách tư pháp và thiết lập tài phán hành chính.
  3. Lịch sử tư tưởng pháp lý thế giới:
    • Tư tưởng cổ đại của Heracles, Xôcrat (463–399 TCN) về pháp luật và công lý, Platon (427–374 TCN) về vai trò xét xử để bảo vệ pháp luật, Arixtot (384–322 TCN) về phân chia quyền lực nhà nước thành lập pháp, hành pháp, tư pháp.
    • Học thuyết tam quyền phân lập của Montesquieu về sự độc lập của quyền tư pháp đối với lập pháp và hành pháp nhằm bảo đảm tự do chính trị và an ninh của công dân.
    • Tư tưởng của John Locke (thế kỷ XVII) về nguyên tắc công dân được làm những gì pháp luật không cấm và cơ quan nhà nước chỉ được làm những gì pháp luật cho phép.
    • Lý luận tài phán hành chính hiện đại: Quan điểm của Gustave Peiser (Đại học Grenoble, Pháp) về các tiêu chí phân định thẩm quyền hành chính; Wolf Ruediger Schenke (Đại học Mannheim, Đức) về phân biệt thẩm quyền vụ việc, địa điểm và phẩm cấp; A. Bleckmann (Đại học Tubingen, Đức) về tòa án là công cụ bảo vệ lợi ích chung và quyền cơ bản trong nhà nước pháp quyền.
  4. Quan điểm của các nhà luật học Việt Nam:
    • GS.TSKH Đào Trí Úc về hệ thống tư pháp và hoạt động tư pháp ("hoạt động nhân danh quyền lực nhà nước nhằm xem xét, đánh giá và ra phán quyết về tính hợp pháp và tính đúng đắn của hành vi pháp luật hay quyết định pháp luật").
    • TS. Đinh Văn Mậu về quyền tư pháp là quyền tài phán bằng hoạt động xét xử theo pháp luật tố tụng, gồm chức năng "xử dân" và "xử quan".
    • PGS.TS Hoàng Văn Hảo về tòa án là cơ quan xét xử, chức năng trung tâm của quyền tư pháp; PGS.TS Trần Ngọc Đường về mở rộng thẩm quyền xét xử và nguyên tắc thẩm phán độc lập chỉ tuân theo pháp luật.

Phân biệt khiếu nại hành chính và khiếu nại tư pháp

Luận án làm rõ ranh giới pháp lý giữa hai cơ chế giải quyết tranh chấp:

Tiêu chí phân biệt Khiếu nại hành chính Khiếu nại tư pháp (tố tụng)
Bản chất Đề nghị xem xét lại quyết định, hành vi hành chính hoặc quyết định kỷ luật cán bộ, công chức. Đề nghị xem xét lại bản án, quyết định và hành vi trong hoạt động tố tụng tư pháp.
Đối tượng bị khiếu nại Quyết định hành chính cá biệt, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật (khiển trách đến buộc thôi việc). Bản án, quyết định tố tụng (khởi tố, bắt giam, kê biên, xử lý vật chứng...); hành vi của người tiến hành tố tụng.
Người bị khiếu nại Cơ quan hành chính nhà nước, người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước. Cơ quan tiến hành tố tụng (Điều tra, Kiểm sát, Tòa án, Thi hành án) hoặc người tiến hành tố tụng.
Cơ quan có thẩm quyền giải quyết Người đứng đầu cơ quan hành chính các cấp (Chủ tịch UBND, Giám đốc Sở, Bộ trưởng, Thủ tướng Chính phủ...). Thủ trưởng cơ quan tố tụng, Tòa án cấp trên theo trình tự phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm.
Trình tự, thủ tục áp dụng Thủ tục hành chính theo quy định của Luật Khiếu nại, tố cáo năm 1998. Thủ tục tư pháp theo quy định của các luật/pháp lệnh tố tụng.

Các định nghĩa và cấu trúc khái niệm do luận án xác lập

  • Định nghĩa thẩm quyền giải quyết khiếu kiện hành chính của Tòa án nhân dân: Là quyền hạn, trách nhiệm, được nhân danh quyền lực nhà nước trong phạm vi chức năng của mình, tòa án tiến hành việc xem xét, đánh giá và ra phán quyết về tính hợp pháp của các quyết định hành chính, hành vi hành chính bị khởi kiện theo trình tự, thủ tục (tố tụng) do pháp luật quy định nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức; góp phần nâng cao hiệu lực hành pháp.
  • Chín yếu tố cấu thành thẩm quyền xét xử hành chính: (1) Yếu tố tổ chức cơ quan xét xử; (2) Tính hệ thống của tổ chức tòa án; (3) Giới hạn không gian (địa hạt lãnh thổ); (4) Giới hạn thời gian (thời hiệu tố tụng); (5) Đối tượng xét xử (quyết định hành chính, hành vi hành chính); (6) Loại việc xem xét, giải quyết do luật định; (7) Trình tự, thủ tục tố tụng tư pháp; (8) Quyền khởi kiện và tư cách đương sự tham gia tố tụng; (9) Quyền hạn của tòa án khi ra phán quyết.
  • Ba nguyên tắc tổ chức và hoạt động tư pháp: (a) Tư pháp không can thiệp hoặc làm cản trở hoạt động hành pháp; (b) Cơ quan nhà nước chỉ được làm những gì pháp luật cho phép, công dân được làm những gì pháp luật không cấm; (c) Bảo đảm tính ổn định và độc lập của tòa án và thẩm phán khi xét xử.

Phương pháp nghiên cứu

Luận án sử dụng 5 phương pháp nghiên cứu định tính và thực chứng:

  • Phương pháp phân tích, tổng hợp: Áp dụng xuyên suốt để phân tích các quan niệm, quan điểm khoa học, tổng hợp các bộ phận cấu thành để xây dựng khái niệm mới về thẩm quyền xét xử hành chính.
  • Phương pháp so sánh: So sánh giữa khiếu nại hành chính và khiếu nại tư pháp; so sánh cơ chế tài phán hành chính của Việt Nam với các mô hình tài phán hành chính trên thế giới (nhất hệ tài phán và lưỡng hệ tài phán tại Pháp, Đức).
  • Phương pháp lịch sử: Khảo sát quá trình phát triển của hệ thống văn bản pháp luật về khiếu nại, tố cáo và tài phán hành chính qua các giai đoạn lịch sử từ năm 1958 đến năm 1998.
  • Phương pháp điều tra xã hội học: Sử dụng biện pháp thăm dò, điều tra nhận thức của cộng đồng và các nhóm xã hội về hoạt động khiếu kiện hành chính và vai trò của tòa án.
  • Phương pháp thống kê: Thu thập, cập nhật số liệu về đơn thư khiếu nại, tỷ lệ giải quyết tại cơ sở và số lượng các vụ án hành chính được Tòa án nhân dân các cấp thụ lý, xét xử trong 5 năm (1996–2001).

Nguồn tư liệu và dữ liệu

  • Văn bản pháp luật giai đoạn 1958–1998: Thông tư 436/TTg (1958), Nghị quyết 164/CP (1970), Nghị quyết 165/CP (1970), Quyết định 25/TTg (1976), Nghị định 01/CP (1977), Pháp lệnh ngày 27/11/1981 của Hội đồng Nhà nước, Nghị định 58/HĐBT (1982), Thông tư 02 (1982), Nghị quyết 26/HĐBT (1984), Pháp lệnh Thanh tra (1990), Pháp lệnh Khiếu nại, tố cáo của công dân (1991), Hiến pháp năm 1992 (các Điều 115, 116, 117, 124, 127), Luật Tổ chức TAND sửa đổi (1995), Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án hành chính (1996, sửa đổi 1998), Luật Khiếu nại, tố cáo (1998).
  • Văn kiện chính trị: Báo cáo chính trị và Nghị quyết tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII (Nghị quyết 8 Trung ương), Đại hội VIII, Đại hội IX của Đảng Cộng sản Việt Nam.
  • Dữ liệu quốc tế: Các văn kiện pháp lý quốc tế về quyền con người gồm Tuyên ngôn độc lập Hoa Kỳ (1776), Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền Pháp (1789), Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền (1948), Tuyên bố Teheran (1968), Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (1966).

Nội dung chính theo từng chương

Luận án có kết cấu gồm phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và 3 chương nội dung với 21 mục.

Chương 1: Cơ sở lý luận về thẩm quyền giải quyết các khiếu kiện hành chính của Tòa án nhân dân

Chương 1 thiết lập khung lý thuyết về quyền tài phán hành chính của Tòa án nhân dân trong mối tương quan với cơ chế quyền lực nhà nước và bảo vệ quyền con người:

  • Cơ chế quyền lực nhà nước và vị trí của Tòa án: Phân tích sự tiến hóa của tư tưởng nhà nước pháp quyền từ thời cổ đại đến các học thuyết phân quyền tư sản và mô hình nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Tòa án được xác định là cơ quan trung tâm thực hiện quyền tư pháp, giữ vai trò kiểm soát tính hợp pháp của hoạt động công quyền, bảo vệ công lý và trật tự pháp luật.
  • Khái niệm khiếu nại hành chính và khởi kiện vụ án hành chính: Phân tích bản chất của hai hình thức khiếu kiện. Khiếu nại hành chính là thủ tục tiền tố tụng bắt buộc theo Luật Khiếu nại, tố cáo năm 1998, trong khi khởi kiện vụ án hành chính là việc công dân, cơ quan, tổ chức hoặc cán bộ, công chức (từ cấp Vụ trưởng và tương đương trở xuống bị kỷ luật buộc thôi việc) yêu cầu tòa án giải quyết theo thủ tục tư pháp nhằm hủy bỏ quyết định hành chính, chấm dứt hành vi hành chính trái pháp luật.
  • Bản chất và đặc điểm thẩm quyền xét xử hành chính: Thẩm quyền của tòa án là quyền phán xét về tính hợp pháp (không can thiệp vào tính hợp lý) của các quyết định hành chính cá biệt và hành vi hành chính. Tác giả luận giải 3 hình thức hoạt động hành pháp thường phát sinh khiếu kiện: ban hành văn bản lập quy (quy phạm), ban hành quyết định hành chính cá biệt (tác động trực tiếp đến quyền lợi công dân) và thực hiện hành vi hành chính.
  • Mối quan hệ giữa tài phán hành chính và bảo vệ quyền con người: Quyền tư pháp thông qua Tòa án nhân dân là phương thức hữu hiệu nhất nhằm bảo vệ quyền tự do, tài sản và danh dự của công dân trước sự lạm quyền hoặc sai phạm từ phía các cơ quan hành chính nhà nước.

Chương 2: Thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn thực hiện thẩm quyền giải quyết các vụ án hành chính của Tòa án nhân dân

Chương 2 đối chiếu các quy định pháp luật thực định với số liệu thực tế qua 5 năm thực hiện xét xử hành chính (1996–2001):

  • Quy định pháp luật về thẩm quyền: Phân tích các tiêu chí phân định thẩm quyền của Tòa án nhân dân theo loại việc (phương pháp liệt kê các loại khiếu kiện thuộc thẩm quyền tại Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án hành chính), thẩm quyền theo cấp tòa án (TAND cấp huyện, TAND cấp tỉnh, TAND tối cao) và thẩm quyền theo lãnh thổ.
  • Đánh giá thực trạng xét xử: Nêu rõ sự mất cân đối nghiêm trọng giữa tình hình khiếu nại thực tế và số lượng án hành chính được thụ lý tại Tòa án. Trong khi khiếu kiện hành chính ngoài xã hội gia tăng gay gắt, đặc biệt là khiếu nại về quản lý đất đai, nhà ở, thu hồi đất, đền bù giải phóng mặt bằng, thuế và xử phạt vi phạm hành chính, thì số vụ án được đưa ra xét xử tại Tòa án nhân dân lại chiếm tỷ lệ không đáng kể. 80% khiếu nại phát sinh từ cơ sở không được giải quyết thỏa đáng, tạo thành điểm nóng khiếu kiện đông người.
  • Hạn chế và bất cập: Chỉ ra nguyên nhân của tình trạng "nhàn nhã" giả tạo tại Tòa án nhân dân cấp huyện là do phương pháp liệt kê loại việc bị giới hạn; quy định thủ tục tiền tố tụng khiếu nại bắt buộc qua nhiều cấp hành chính làm triệt tiêu khả năng tiếp cận công lý của công dân; sự thiếu rành mạch giữa thủ tục giải quyết khiếu nại hành chính và thủ tục tố tụng tư pháp; tâm lý e ngại kiện cơ quan công quyền của người dân và sự thiếu hợp tác của cơ quan hành chính bị kiện.

Chương 3: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện thẩm quyền giải quyết các khiếu kiện hành chính của Tòa án nhân dân

Chương 3 đề xuất các định hướng và giải pháp cụ thể nhằm mở rộng quyền tài phán hành chính:

  • Phương hướng đổi mới: Mở rộng thẩm quyền xét xử hành chính của Tòa án nhân dân theo hướng tòa án có quyền thụ lý mọi khiếu kiện đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức (chuyển dần từ phương pháp liệt kê loại trừ sang nguyên tắc mở rộng quyền khởi kiện, trừ các quyết định mang tính bí mật quốc gia hoặc thuộc lĩnh vực an ninh, quốc phòng).
  • Phân định lại thẩm quyền các cấp Tòa án: Tăng cường thẩm quyền xét xử sơ thẩm cho Tòa án nhân dân cấp huyện nhằm giải quyết kịp thời các tranh chấp tại cơ sở; phân định hợp lý thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp tỉnh và Tòa hành chính Tòa án nhân dân tối cao.
  • Hoàn thiện môi trường pháp lý: Kiến nghị Quốc hội nâng cao hiệu lực pháp lý bằng việc xây dựng và ban hành một đạo luật hoàn chỉnh về tố tụng hành chính (Luật Thủ tục giải quyết các vụ án hành chính); bãi bỏ hoặc đơn giản hóa thủ tục khiếu nại hành chính bắt buộc trước khi khởi kiện ra tòa án; tăng cường tính độc lập của thẩm phán và bảo đảm cơ chế thi hành các bản án, quyết định hành chính đã có hiệu lực pháp luật.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận

  1. Luận án là công trình khoa học đầu tiên nghiên cứu toàn diện, có hệ thống về thẩm quyền xét xử hành chính của Tòa án nhân dân tại Việt Nam trong khuôn khổ xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
  2. Xây dựng và chuẩn hóa định nghĩa khoa học về "Thẩm quyền giải quyết khiếu kiện hành chính của Tòa án nhân dân", xác định rõ 9 yếu tố cấu thành và 3 nguyên tắc nền tảng của quyền tư pháp trong kiểm soát hoạt động hành pháp.
  3. Làm rõ bản chất pháp lý, phân định ranh giới giữa khiếu nại hành chính (thủ tục hành chính) và khiếu nại tư pháp / khởi kiện vụ án hành chính (thủ tục tố tụng tư pháp).

Đóng góp về mặt thực tiễn

  1. Tổng kết, đánh giá thực chứng 5 năm tổ chức và hoạt động của Tòa hành chính trong hệ thống Tòa án nhân dân (1996–2001), phát hiện nghịch lý giữa sự gia tăng khiếu kiện hành chính thực tế và tình trạng thụ lý án rất thấp tại Tòa án cấp huyện ("tình trạng nhàn nhã giả tạo").
  2. Chỉ ra các điểm nghẽn thể chế: phương pháp luật định hạn chế đối tượng khởi kiện, thủ tục tiền tố tụng phức tạp và tỷ lệ 80% khiếu nại bị ách tắc từ cơ sở.

Kiến nghị và giải pháp đề xuất

  • Đổi mới căn bản phương pháp xác định thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân theo hướng mở rộng tối đa quyền tiếp cận tư pháp của công dân đối với các hành vi và quyết định của công quyền.
  • Hoàn thiện mô hình phân định thẩm quyền giữa các cấp Tòa án nhân dân, nâng cao năng lực xét xử sơ thẩm của cấp huyện.
  • Kiến nghị xây dựng và ban hành văn bản luật về thủ tục giải quyết các vụ án hành chính của Tòa án nhân dân thay thế cho Pháp lệnh hiện hành, tạo hành lang pháp lý đồng bộ cho cải cách tư pháp và cải cách nền hành chính quốc gia.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Luận án được triển khai dựa trên cơ sở dữ liệu thực tiễn của 5 năm đầu thiết lập hệ thống Tòa hành chính (1996–2001) theo khuôn khổ của Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án hành chính năm 1996 (sửa đổi 1998) và Luật Khiếu nại, tố cáo năm 1998. Do các quy định pháp luật thời kỳ này còn mang tính thí điểm, một số loại việc hành chính phức tạp chưa phát sinh đầy đủ trong thực tế xét xử.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Tiếp tục nghiên cứu thực tiễn áp dụng khi các đạo luật tố tụng hành chính mới được ban hành; nghiên cứu sâu hơn về cơ chế bảo đảm thi hành án hành chính và mô hình tổ chức Tòa án hành chính độc lập theo thẩm quyền khu vực lãnh thổ.

Giá trị tham khảo

  • Đối với cơ quan lập pháp và hoạch định chính sách: Cung cấp cơ sở lý luận và luận cứ thực tiễn để phục vụ việc sửa đổi, bổ sung Luật Tổ chức Tòa án nhân dân, Luật Khiếu nại, tố cáo và tiến trình xây dựng Luật Tố tụng hành chính.
  • Đối với ngành Tòa án và các cơ quan tư pháp: Là tài liệu tham khảo trong việc phân định thẩm quyền xét xử, nâng cao chất lượng xét xử các vụ án hành chính và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự.
  • Đối với nghiên cứu và đào tạo: Phục vụ công tác giảng dạy, học tập và nghiên cứu chuyên sâu về Luật Hành chính, Luật Tố tụng Hành chính và Tư pháp hành chính tại các trường đại học, viện nghiên cứu chuyên ngành luật.

Câu hỏi thường gặp

1. Khái niệm "thẩm quyền giải quyết khiếu kiện hành chính của Tòa án nhân dân" được luận án định nghĩa như thế nào?
Luận án định nghĩa: Thẩm quyền giải quyết khiếu kiện hành chính của tòa án là quyền hạn, trách nhiệm, được nhân danh quyền lực nhà nước trong phạm vi chức năng của mình, tòa án tiến hành việc xem xét, đánh giá và ra phán quyết về tính hợp pháp của các quyết định hành chính, hành vi hành chính bị khởi kiện theo trình tự, thủ tục (tố tụng) do pháp luật quy định nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức; góp phần nâng cao hiệu lực hành pháp.

2. Thực trạng thụ lý án hành chính tại Tòa án nhân dân các cấp sau 5 năm thành lập Tòa hành chính (1/7/1996–2001) được ghi nhận ra sao?
Văn bản ghi nhận số án hành chính được thụ lý và giải quyết tại tòa án là rất ít, tỷ lệ không đáng kể so với khối lượng khiếu kiện thực tế ngoài xã hội. Đại đa số các tòa án, nhất là Tòa án nhân dân cấp huyện, chưa từng thụ lý hoặc giải quyết vụ án hành chính nào, tạo ra tình trạng "nhàn nhã" giả tạo và khiến chức năng xét xử hành chính mang tính hình thức.

3. Tỷ lệ khiếu nại phát sinh từ cơ sở không được giải quyết kịp thời là bao nhiêu và dẫn đến hệ quả gì?
Qua khảo sát thực tiễn công tác giải quyết khiếu nại, có 80% khiếu nại phát sinh từ cơ sở không được giải quyết kịp thời, tình trạng trì hoãn và giải quyết không đúng pháp luật diễn ra phổ biến, trở thành một trong các nguyên nhân chủ yếu hình thành nên các "điểm nóng" khiếu kiện phức tạp.

4. Ba nguyên tắc cơ bản trong tổ chức và hoạt động của cơ quan tư pháp được phân tích gồm những gì?
Ba nguyên tắc gồm: (1) Tư pháp không được can thiệp vào hoạt động hoặc làm cản trở hoạt động hành pháp; (2) Hoạt động của cơ quan nhà nước chỉ được làm những gì pháp luật cho phép, đồng thời tôn trọng quyền của công dân được làm tất cả những gì pháp luật không cấm; (3) Bảo đảm tính ổn định và độc lập của tòa án và thẩm phán khi xét xử.

5. Luận án đề xuất giải pháp lập pháp mang tính căn bản nào nhằm hoàn thiện thẩm quyền xét xử hành chính?
Luận án kiến nghị hoàn thiện các quy định pháp luật theo hướng mở rộng thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân, tiến tới xây dựng và ban hành một văn bản luật chính thức về thủ tục giải quyết các vụ án hành chính (Luật Tố tụng hành chính) thay thế cho hình thức Pháp lệnh.


Kết luận

Luận án "Thẩm quyền của Tòa án nhân dân trong việc giải quyết các khiếu kiện hành chính" đã giải quyết một cách có hệ thống các vấn đề lý luận và thực tiễn về quyền tài phán hành chính tại Việt Nam trong giai đoạn đổi mới. Bằng việc phân tích sâu sắc các học thuyết pháp lý, đánh giá thực trạng 5 năm đầu triển khai xét xử hành chính (1996–2001) và chỉ rõ các điểm nghẽn thể chế, công trình đã xây dựng thành công khái niệm khoa học về thẩm quyền tài phán hành chính của Tòa án nhân dân. Các giải pháp và kiến nghị mở rộng thẩm quyền xét xử, hoàn thiện phân định cấp tòa án và xây dựng đạo luật tố tụng hành chính có giá trị khoa học vững chắc, đóng góp thiết thực cho công cuộc cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.