Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Khóa luận tốt nghiệp "Nghiên cứu sự tham gia của người dân trong công tác bảo vệ rừng tại xã Xuân Nha, huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La" được thực hiện trong bối cảnh diện tích tài nguyên rừng tự nhiên tại khu vực miền núi phía Bắc đang chịu nhiều áp lực suy thoái nghiêm trọng. Nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ tập quán phá rừng làm nương rẫy, tình trạng khai thác gỗ và lâm sản ngoài gỗ bừa bãi, cháy rừng do bất cẩn trong sản xuất, cùng với sức ép kinh tế của cộng đồng dân cư vùng cao sống phụ thuộc gần như hoàn toàn vào tài nguyên thiên nhiên.
Xã Xuân Nha là địa bàn vùng sâu, vùng xa, có đường biên giới và nằm trong vùng đệm cũng như vùng lõi của Khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Nha (được thành lập theo Quyết định số 3440/QĐ-UBND ngày 11/11/2002 của Ủy ban nhân dân tỉnh Sơn La). Đời sống người dân tại đây thuần nông, tỷ lệ hộ nghèo chiếm trên 40%, trình độ dân trí còn nhiều hạn chế và phương thức canh tác truyền thống nặng tính bóc lột đất rừng. Mặc dù Nhà nước đã triển khai các chính sách giao đất, giao rừng và khoán bảo vệ rừng, song lực lượng kiểm lâm mỏng và địa bàn chia cắt hiểm trở khiến công tác bảo vệ rừng gặp nhiều trở ngại. Do đó, việc xác định thực trạng và mức độ tham gia của cộng đồng địa phương là yêu cầu cấp thiết nhằm tìm kiếm các giải pháp quản lý rừng bền vững dựa vào cộng đồng.
Mục tiêu chung của nghiên cứu: Góp phần nâng cao công tác bảo vệ rừng, hướng tới sự phát triển bền vững của tài nguyên rừng tại xã Xuân Nha, huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La.
Nhiệm vụ và mục tiêu cụ thể được xác định gồm 3 nội dung:
- Đánh giá được thực trạng công tác bảo vệ rừng của xã Xuân Nha.
- Đánh giá được thực trạng sự tham gia của người dân trong công tác bảo vệ rừng tại xã Xuân Nha.
- Đề xuất một số giải pháp thúc đẩy sự tham gia của người dân trong công tác bảo vệ rừng tại xã Xuân Nha.
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các hoạt động bảo vệ rừng và mức độ tham gia của cộng đồng dân tộc thiểu số tại địa phương.
Phạm vi nghiên cứu:
- Phạm vi không gian: Thực hiện tại địa bàn xã Xuân Nha, huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La, tập trung điều tra chuyên sâu tại 3 bản đại diện: bản Tưng (trung tâm xã, kinh tế và dân trí phát triển hơn), bản Pù Lầu (bản vùng sâu tiếp giáp xã Tân Xuân, điều kiện kinh tế khó khăn, giao thông cách trở) và bản Chiềng Hin (nằm tiếp giáp xã Chiềng Xuân, cư dân sinh sống ngay trong vùng lõi của rừng đặc dụng).
- Phạm vi thời gian: Đề tài thu thập dữ liệu thứ cấp từ giai đoạn 2010–2015 và tiến hành điều tra khảo sát thực địa trong năm học 2015–2016.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận vận dụng hệ thống lý thuyết về quản lý rừng dựa vào cộng đồng (Community-Based Forest Management - CBFM) và lâm nghiệp xã hội. Nghiên cứu kế thừa khung pháp lý điều chỉnh ngành lâm nghiệp Việt Nam qua các thời kỳ, bao gồm:
- Luật Bảo vệ và Phát triển rừng năm 1991 và Luật Bảo vệ và Phát triển rừng (sửa đổi) năm 2004.
- Nghị định số 117/2010/NĐ-CP ngày 24/12/2010 của Chính phủ về tổ chức và quản lý rừng đặc dụng; Thông tư số 78/2011/TT-BNNPTNT hướng dẫn thi hành.
- Quyết định số 186/2006/QĐ-TTg ngày 14/08/2006 (được sửa đổi, bổ sung bởi Quyết định số 34/2011/QĐ-TTg) về Quy chế quản lý rừng.
- Quyết định số 07/2012/QĐ-TTg về một số chính sách tăng cường công tác bảo vệ rừng và Quyết định số 24/2012/QĐ-TTg về chính sách đầu tư phát triển rừng đặc dụng giai đoạn 2011–2020.
- Nghị định số 99/2010/NĐ-CP về chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng (DVMTR).
- Nghị định số 157/2013/NĐ-CP và Nghị định số 40/2015/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý, phát triển, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản.
- Khung đánh giá các loài động thực vật nguy cấp theo Nghị định số 32/2006/NĐ-CP, Sách đỏ Việt Nam (2007) và Danh lục đỏ IUCN (2011).
Để đo lường sự tham gia của người dân, tác giả sử dụng thang phân loại mức độ tham gia gồm 7 cấp bậc của Holsey (1993):
- Mức độ 1 (MĐ1): Tham gia có tính chất vận động (cử đại diện nhưng không qua bầu cử).
- Mức độ 2 (MĐ2): Tham gia bị động (thực hiện theo mệnh lệnh áp đặt).
- Mức độ 3 (MĐ3): Tham gia qua hình thức tư vấn (trả lời câu hỏi, đóng góp ý kiến khi được hỏi).
- Mức độ 4 (MĐ4): Tham gia vì mục tiêu hưởng hỗ trợ vật tư, tài chính bên ngoài (lao động đổi lấy kinh phí; hỗ trợ kết thúc thì sự tham gia chấm dứt).
- Mức độ 5 (MĐ5): Tham gia theo chức năng (thành lập tổ, nhóm thực hiện mục tiêu nhưng do bên ngoài quyết định định hướng).
- Mức độ 6 (MĐ6): Tham gia hỗ trợ (cùng phân tích, xây dựng kế hoạch hành động và củng cố tổ chức cơ sở).
- Mức độ 7 (MĐ7): Tự huy động và tự tổ chức (chủ động tự quản lý hoàn toàn các quá trình mà không phụ thuộc tổ chức bên ngoài).
Phương pháp nghiên cứu thực địa kết hợp điều tra định lượng và định tính:
- Phương pháp kế thừa tài liệu thứ cấp: Tiếp cận báo cáo kinh tế - xã hội của Ủy ban nhân dân xã Xuân Nha, hồ sơ kỹ thuật và số liệu quản lý của Hạt Kiểm lâm Khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Nha.
- Phương pháp điều tra phỏng vấn: Tổng quy mô mẫu là 80 phiếu điều tra, bao gồm 60 phiếu hộ gia đình người dân bản địa, 15 phiếu cán bộ cấp thôn/xã và 5 phiếu cán bộ kiểm lâm địa bàn. Dữ liệu khảo sát người dân phân bổ đều tại 3 bản nghiên cứu (mỗi bản 25 người, kết hợp cả cán bộ thôn và hộ dân). Song song đó, tác giả tiến hành phỏng vấn sâu các lãnh đạo Ủy ban nhân dân xã và trưởng bản.
- Phương pháp xử lý dữ liệu: Tổng hợp, thống kê mô tả, lập bảng chéo và phân tích tỷ lệ phần trăm bằng phần mềm bảng tính.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Chương này tổng hợp các công trình nghiên cứu về quản lý tài nguyên rừng có sự tham gia của người dân trên thế giới và tại Việt Nam. Trên bình diện quốc tế, tác giả trích dẫn các nghiên cứu tại Nepal (Apple Gate, 1987), Thái Lan (chương trình làng rừng, nghiên cứu của Bink Man, 1998 tại tỉnh Sisaket) và chiến lược bảo tồn đa dạng sinh học của Philippines nhằm chứng minh rằng việc loại trừ người dân bản địa khỏi các khu bảo tồn thường không đem lại hiệu quả bền vững; ngược lại, việc trao quyền sử dụng đất và tích hợp tri thức bản địa giúp gia tăng năng lực bảo vệ rừng.
Tại Việt Nam, chương 1 điểm lại lịch sử thiết lập hệ thống rừng đặc dụng từ Vườn quốc gia Cúc Phương (1962) đến hệ thống 128 khu rừng đặc dụng hiện nay. Tác giả phân tích các kết quả nghiên cứu sinh kế gắn với rừng của Donovan và cộng sự (1997), Trần Ngọc Lân (1999) tại Vườn quốc gia Pù Mát, Nguyễn Huy Dũng (1999) về quản lý rừng cộng đồng tại Phúc Sen (Cao Bằng), Vũ Hoài Minh và Hans Warfvinge (2002) tại Hòa Bình, Nghệ An, Thừa Thiên Huế và dự án Lâm nghiệp Xã hội Sông Đà. Khái quát các đề tài nghiên cứu đã triển khai tại Khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Nha (chủ yếu tập trung vào bướm đêm, thông Xuân Nha, hệ thực vật, động vật quý hiếm), khẳng định chưa có công trình nào đi sâu đánh giá sự tham gia của người dân tại xã Xuân Nha, tạo cơ sở cho việc triển khai khóa luận.
Chương 2: Mục tiêu, nội dung và phương pháp nghiên cứu
Tác giả hệ thống hóa mục tiêu nghiên cứu (1 mục tiêu chung, 3 mục tiêu cụ thể), 4 nội dung nghiên cứu chi tiết và quy trình thu thập dữ liệu. Chương 2 mô tả chi tiết phương pháp chọn mẫu tại 3 bản đại diện (bản Tưng, bản Pù Lầu, bản Chiềng Hin) với tổng số 80 phiếu điều tra. Thiết kế hệ thống bảng biểu thu thập đặc điểm nhân khẩu học (độ tuổi, nghề nghiệp, trình độ học vấn) và các tiêu chí đánh giá mức độ nhận thức, mức độ vi phạm, sự tham gia theo khung lý thuyết 7 mức độ của Holsey.
Chương 3: Đặc điểm tự nhiên – kinh tế xã hội của khu vực nghiên cứu
Chương này mô tả điều kiện tự nhiên và nhân văn xã Xuân Nha:
- Tự nhiên: Diện tích tự nhiên toàn xã là 9.988 ha; địa hình núi đất xen lẫn núi đá vôi, độ dốc trung bình 15°–25°, nhiều nơi dốc trên 35°; có 6 nhóm đất chính (chủ đạo là các loại đất feralit vàng sẫm, vàng nâu, vàng nhạt và đất dốc tụ). Khí hậu chia thành 2 mùa rõ rệt, mạng lưới thủy văn có suối Quanh chảy ra sông Mã cùng hệ thống suối ngầm.
- Kinh tế - Xã hội: Dân số năm 2013 có 905 hộ với 3.794 nhân khẩu sinh sống tại 8 bản, mật độ dân số 41 người/km²; gồm 4 dân tộc: Thái, Mường, Mông, Kinh (dân tộc Thái chiếm tỷ lệ đông nhất). Cơ cấu sản xuất chính là nông nghiệp nương rẫy và chăn nuôi: lúa nước 155 ha (năng suất 38,3 tạ/ha), ngô 625 ha (năng suất 30 tạ/ha), sắn 105 ha (năng suất 35 tạ/ha); đàn gia súc gia cầm bình quân 1–3 trâu, 1 bò, 2–3 lợn và 20–30 gia cầm mỗi hộ. Tỷ lệ hộ nghèo ở mức cao (trên 40%), giao thông nội vùng khó khăn, dịch vụ văn hóa y tế giáo dục còn thiếu thốn.
Chương 4: Kết quả nghiên cứu
Nội dung chương 4 tập trung vào 4 phát hiện lớn:
- Đặc điểm tài nguyên rừng: Tổng diện tích tự nhiên 9.988 ha. Trong đó, rừng đặc dụng chiếm 733,175 ha (chủ yếu tại bản Chiềng Hin, rừng tự nhiên 605,251 ha, đất chưa có rừng 127,924 ha); rừng phòng hộ chiếm 1.913,449 ha (rừng tự nhiên 1.024,111 ha, rừng trồng 2,415 ha, đất chưa có rừng 886,923 ha); rừng sản xuất chiếm 5.350,690 ha (rừng tự nhiên 2.182,352 ha, rừng trồng 585,873 ha, đất chưa có rừng 3.168,465 ha). Hệ thực vật ghi nhận 24 loài quý hiếm trong Sách đỏ Việt Nam và Danh lục IUCN. Hệ động vật đa dạng với 81 loài thú thuộc 24 họ (gồm 7 loài linh trưởng như Voọc xám, Voọc má trắng, Cu li lớn, Cu li nhỏ, Khỉ mốc, Khỉ mặt đỏ, Khỉ vàng), 223 loài chim thuộc 50 họ, 66 loài bò sát và lưỡng cư thuộc 24 họ.
- Thực trạng công tác bảo vệ rừng của chính quyền: Thiết lập mô hình tổ chức bảo vệ rừng từ Ủy ban nhân dân xã đến Trưởng bản và các Tổ bảo vệ rừng bản (mỗi tổ 9–12 người do trưởng bản hoặc công an viên phụ trách). Năm 2015, xã tổ chức 8 hội nghị ký cam kết bảo vệ rừng và phòng cháy chữa cháy rừng (PCCCR) với 439 hộ gia đình, 3 hội nghị phổ biến dự án KfW7 với 211 hộ. Từ năm 2010 đến 2015 xảy ra 3 vụ cháy rừng làm thiệt hại 32 ha (vụ cháy ngày 28/02/2010 thiệt hại 30 ha rừng đặc dụng; mùa khô 2011–2012 xảy ra 2 vụ thiệt hại 2 ha rừng tái sinh). Năm 2015 phát hiện, xử lý 5 vụ vi phạm lâm luật (3 vụ phá rừng, 1 vụ tàng trữ lâm sản, 1 vụ làm cháy rừng 1,5 ha).
- Sự tham gia của người dân trong bảo vệ rừng: Khảo sát 3 bản cho thấy tỷ lệ được giao đất, giao rừng đạt bình quân 81% (trong đó khoán bảo vệ rừng 64%, cấp bìa xanh 17%, chưa giao 19%). Mục đích sử dụng rừng của người dân tập trung vào: lấy củi (45%), hái măng (51%), săn bắt động vật (52%), làm nương rẫy (35%), lấy mật ong (13%), khai thác cây thuốc (11%), lấy than củi (1%). Tỷ lệ sẵn sàng tham gia dập lửa chữa cháy rừng rất cao (Pù Lầu 96%, Chiềng Hin 88%, bản Tưng 84%). Đánh giá công tác bảo vệ rừng: 65% cho là tốt, 35% cho là trung bình. Đánh giá mức độ chặt phá rừng: 73% nhận định mức độ ít, 27% mức độ trung bình. 88% hộ dân đã được tham gia tập huấn bảo vệ rừng; 100% người dân khẳng định việc xây dựng quy ước bản là cần thiết; 36% người dân trực tiếp tham gia tổ xung kích bảo vệ rừng.
- Giải pháp đề xuất: Khóa luận đưa ra 3 nhóm giải pháp gồm: giải pháp kinh tế (đẩy mạnh chi trả DVMTR, hỗ trợ cây con giống, chuyển đổi canh tác nương rẫy sang nông lâm kết hợp); giải pháp xã hội (tăng cường tuyên truyền lồng ghép luật tục, hoàn thiện hương ước bản, nâng cao năng lực cho tổ bảo vệ rừng); giải pháp khoa học công nghệ (ứng dụng các giống cây trồng mới, tập huấn kỹ thuật thâm canh đất dốc và kỹ thuật phòng trừ sâu bệnh, PCCCR).
Kết quả và đóng góp
Nghiên cứu đã cung cấp số liệu thực nghiệm chi tiết về hiện trạng tài nguyên và các chỉ số tham gia của cộng đồng dân cư tại 3 bản đại diện thuộc xã Xuân Nha.
Bảng tổng hợp các chỉ số khảo sát thực nghiệm tại 3 bản nghiên cứu:
| Tiêu chí khảo sát |
Bản Chiềng Hin |
Bản Pù Lầu |
Bản Tưng |
Trung bình toàn xã |
| Tỷ lệ hộ được giao đất, giao rừng (%) |
88,0 |
84,0 |
72,0 |
81,0 |
| Tỷ lệ tham gia khoán bảo vệ rừng (%) |
68,0 |
84,0 |
40,0 |
64,0 |
| Đánh giá công tác BVR đạt mức "Tốt" (%) |
80,0 |
68,0 |
48,0 |
65,0 |
| Đánh giá công tác BVR đạt mức "Trung bình" (%) |
20,0 |
32,0 |
52,0 |
35,0 |
| Người dân sử dụng rừng để lấy củi (%) |
60,0 |
28,0 |
48,0 |
45,0 |
| Người dân khai thác măng rừng (%) |
40,0 |
52,0 |
60,0 |
51,0 |
| Người dân săn bắt động vật hoang dã (%) |
48,0 |
52,0 |
56,0 |
52,0 |
| Người dân đốt nương làm rẫy (%) |
52,0 |
36,0 |
16,0 |
35,0 |
| Sẵn sàng tham gia chữa cháy rừng (%) |
88,0 |
96,0 |
84,0 |
89,3 |
| Tỷ lệ người dân từng tham gia tập huấn BVR (%) |
92,0 |
88,0 |
84,0 |
88,0 |
| Tỷ lệ người dân tham gia Tổ xung kích BVR (%) |
- |
- |
- |
36,0 |
Bảng phân loại mức độ tham gia của người dân theo khung lý thuyết Holsey:
| Hoạt động quản lý, bảo vệ rừng |
Tỷ lệ tham gia (%) |
Mức độ theo thang Holsey |
Đặc điểm tham gia thực tế |
| Nhận khoán bảo vệ rừng |
81,0 |
MĐ4 |
Người dân tham gia vì mục tiêu hưởng chi trả kinh phí/vật tư DVMTR |
| Thực hiện phương án BVR của xã |
100,0 |
MĐ5 |
Tham gia theo chức năng dưới sự điều hành và chỉ đạo của chính quyền xã |
| Thực hiện quy ước, hương ước bản |
96,0 |
MĐ7 |
Tự tổ chức, tự huy động và quản lý dựa trên các cam kết nội bộ thôn bản |
| Tham gia các đợt tập huấn BVR |
88,0 |
MĐ3 / MĐ5 |
Tiếp nhận kiến thức, đóng góp ý kiến về nhu cầu đào tạo thực tế |
| Tham gia các buổi họp tuyên truyền |
100,0 |
MĐ1 / MĐ2 |
Tham gia theo diện vận động từ trưởng bản và kiểm lâm |
| Trực tiếp tham gia chữa cháy rừng |
89,3 |
MĐ5 / MĐ7 |
Phối hợp theo chức năng và tự phát huy động khi có sự cố tại cộng đồng |
| Tham gia Tổ xung kích BVR bản |
36,0 |
MĐ7 |
Tự quản lý và trực tiếp tuần tra rừng theo quy ước bản |
Đóng góp của khóa luận:
- Về mặt lý luận và phương pháp: Khóa luận đã chuẩn hóa việc áp dụng thang đo 7 mức độ tham gia của Holsey vào điều kiện thực tiễn của một xã vùng cao, phân tích định lượng cụ thể thay vì chỉ dừng lại ở các nhận định định tính chung chung.
- Về mặt thực tiễn: Khóa luận chỉ ra nghịch lý trong công tác bảo vệ rừng: bản Chiềng Hin nằm trong vùng lõi rừng đặc dụng có tỷ lệ giao đất và nhận thức bảo vệ rừng cao (80% đánh giá tốt), nhưng lại là nơi có áp lực khai thác củi (60%) và đốt nương làm rẫy (52%) cao nhất. Nghiên cứu cũng xác nhận chính sách chi trả DVMTR là đòn bẩy kinh tế cốt lõi (thu hút 81% tham gia) giúp ổn định sinh kế và giảm áp lực xâm hại rừng tự nhiên.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận tự nhìn nhận các hạn chế cụ thể trong quá trình thực hiện:
- Hạn chế về phạm vi mẫu: Do thời gian nghiên cứu thực địa ngắn và điều kiện địa hình đi lại hiểm trở, tác giả chỉ tiến hành điều tra tại 3 trên tổng số 8 bản của xã Xuân Nha với dung lượng mẫu 80 đối tượng (60 hộ dân). Cỡ mẫu này chưa bao quát hết sự biến thiên sinh kế của toàn bộ cộng đồng các dân tộc khác trên địa bàn xã.
- Hạn chế về phương pháp phân tích: Nghiên cứu chủ yếu sử dụng các công cụ thống kê mô tả, chưa xây dựng được hệ thống chỉ tiêu phân tích hồi quy tương quan để lượng hóa mức độ tác động của các biến số nhân khẩu học (thu nhập, dân tộc, học vấn) đối với hành vi xâm hại tài nguyên rừng.
Hướng nghiên cứu tiếp theo:
- Mở rộng quy mô điều tra sang toàn bộ 8 bản của xã Xuân Nha và các xã lân cận thuộc vùng đệm Khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Nha (như xã Tân Xuân, xã Chiềng Xuân).
- Xây dựng mô hình định lượng đánh giá giá trị kinh tế trực tiếp và gián tiếp của lâm sản ngoài gỗ đối với tổng thu nhập hộ gia đình, từ đó đề xuất định mức chi trả DVMTR phù hợp với biến động thị trường.
Giá trị tham khảo
Khóa luận có giá trị tham khảo chuyên môn cho các đối tượng:
- Sinh viên và học viên cao học ngành Quản lý tài nguyên rừng và môi trường, Lâm học, Lâm nghiệp xã hội, Phát triển nông thôn làm tài liệu tham khảo về phương pháp luận ứng dụng thang đo Holsey trong nghiên cứu cộng đồng.
- Cán bộ kỹ thuật thuộc Ban quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Nha và Hạt Kiểm lâm huyện Vân Hồ trong việc tham vấn số liệu hiện trạng giao đất giao rừng, thực trạng đốt nương và săn bắt động vật hoang dã tại các tiểu khu giáp ranh.
- Chính quyền địa phương xã Xuân Nha trong việc kiện toàn các Tổ xung kích bảo vệ rừng cấp bản, hoàn thiện quy ước hương ước thôn bản và xây dựng kế hoạch phân bổ kinh phí chi trả DVMTR.
Phần tài liệu có giá trị tham khảo cao nhất gồm: hệ thống biểu mẫu phiếu điều tra xã hội học lâm nghiệp (Phụ lục 02), danh lục 24 loài thực vật quý hiếm ghi nhận tại địa bàn (Phụ lục 01) và ma trận số liệu khảo sát ý kiến người dân tại 3 bản nghiên cứu.
Câu hỏi thường gặp
1. Khóa luận sử dụng cỡ mẫu bao nhiêu và phân bổ như thế nào giữa các nhóm đối tượng nghiên cứu?
Tổng dung lượng mẫu điều tra là 80 phiếu, bao gồm: 60 phiếu phỏng vấn người dân địa phương, 15 phiếu phỏng vấn cán bộ thôn/xã và 5 phiếu phỏng vấn cán bộ kiểm lâm địa bàn. Dữ liệu khảo sát người dân được chia đều tại 3 bản: bản Tưng (25 người), bản Pù Lầu (25 người) và bản Chiềng Hin (25 người).
2. Tỷ lệ giao đất, giao rừng tại 3 bản khảo sát của xã Xuân Nha đạt mức bao nhiêu?
Tỷ lệ giao đất, giao rừng trung bình đạt 81% số hộ được phỏng vấn; trong đó hình thức khoán bảo vệ rừng chiếm 64%, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp (bìa xanh) chiếm 17%, còn lại 19% chưa được giao. Bản Chiềng Hin có tỷ lệ giao đất cao nhất (88%), tiếp theo là Pù Lầu (84%) và bản Tưng (72%).
3. Hoạt động khai thác tài nguyên rừng nào diễn ra phổ biến nhất trong cộng đồng người dân xã Xuân Nha?
Khảo sát cho thấy hoạt động khai thác diễn ra nhiều nhất là săn bắt động vật hoang dã (52% người dân tham gia), lấy măng rừng (51%), lấy củi đun (45%) và đốt nương làm rẫy (35%). Hoạt động lấy than củi có tỷ lệ tham gia thấp nhất (1%).
4. Mức độ tham gia của người dân trong việc xây dựng và thực thi quy ước bảo vệ rừng cấp bản được xếp vào cấp độ nào theo thang đo Holsey?
Hoạt động xây dựng và thực thi quy ước bảo vệ rừng tại bản được xếp vào Mức độ 7 (MĐ7 - Tự huy động và tự tổ chức) với 96% người dân tham gia, do quy ước xuất phát từ chính nhu cầu cộng đồng thôn bản và người dân tự giám sát, thực hiện.
5. Từ năm 2010 đến thời điểm nghiên cứu, xã Xuân Nha xảy ra bao nhiêu vụ cháy rừng và nguyên nhân chính là gì?
Địa bàn xã xảy ra 3 vụ cháy rừng làm thiệt hại 32 ha (vụ cháy rừng đặc dụng ngày 28/02/2010 gây thiệt hại 30 ha; mùa khô 2011–2012 xảy ra 2 vụ làm thiệt hại 2 ha rừng non tái sinh). Nguyên nhân trực tiếp là do người dân sơ ý khi đốt nương rẫy, đốt đồng cỏ chăn nuôi, đốt lửa hun khói lấy mật ong hoặc sưởi ấm khi đi săn; nguyên nhân gián tiếp do thời tiết khô hanh kéo dài kết hợp gió phơn Tây Nam và thảm thực bì dày.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Vũ Chung Hưng đã hoàn thành mục tiêu đánh giá toàn diện thực trạng tài nguyên rừng và sự tham gia của người dân trong công tác bảo vệ rừng tại xã Xuân Nha, huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La. Nghiên cứu xác lập được hệ thống dữ liệu thực nghiệm tại 3 bản đại diện, lượng hóa mức độ tham gia của cộng đồng theo khung 7 cấp bậc của Holsey và làm rõ vai trò quyết định của chính sách giao khoán rừng cũng như chi trả dịch vụ môi trường rừng. Các giải pháp kinh tế, xã hội và kỹ thuật được đề xuất có tính tương thích cao với điều kiện thực tế của một xã vùng cao thuộc vùng đệm khu bảo tồn thiên nhiên. Công trình là tài liệu tham khảo học thuật hữu ích cho công tác quản trị tài nguyên rừng dựa vào cộng đồng tại khu vực Tây Bắc.