ĐẶT VẤN ĐỀ Rừng là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá mà con ngƣời có đƣợc. Rừng có những vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự phát sinh, tồn tại vàphát triển của các sinh vật nói chung và con ngƣời nói riêng. Hiện nay rừng đang bị thu hẹp về diện tích và tàn phá nặng nề. Nguyên nhân chủ yếu là nạn phá rừng làm nƣơng rẫy, khai thác rừng bừa bãi, khai thác gỗ vƣợt chỉ tiêu cho phép, sự vô ý thức của một số ngƣời dân làm cháy rừng và một phần do các thiên tai làm ảnh hƣởng xấu tới rừng, cùng với những áp lực từ sự phát triển kinh tế, cuộc sống khó khăn của ngƣời dân, sự tha hóa, buông lỏng trách nhiệm của những ngƣời có chức năng bảo vệ rừng.
Nói đến tài nguyên rừng ta không chỉ chú trọng vào vấn đề chúng bị tàn phá ra sao mà còn chú trọng những tác động đến môi trƣờng và cuộc sống của con ngƣời. Bảo vệ rừng chính là bảo vệ môi trƣờng sống của chúng ta, vì vậy cần có những hành động thiết thực nhằm nâng cao ý thức tự bảo vệ rừng của ngƣời dân. Đó cũng là mấu chốt giúp cho công tác bảo vệ rừng đạt đƣợc hiệu quả cao hơn. Trong vài năm gần đây, xuất phát từ yêu cầu quản lý bảo vệ rừng, một số địa phƣơng đã triển khai giao đất, giao rừng cho cộng đồng quản lý bảo vệ rừng, sử dụng ổn định, lâu dài vào mục đích lâm nghiệp.
Ngoài ra, các cộng đồng còn tham gia nhận khoán bảo vệ, khoanh nuôi tái sinh và trồng mới rừng của các tổ chức Nhà nƣớc, tạo điều kiện cho cộng đồng tham gia vào công tác quản lý bảo vệ rừng và phòng cháy chữa cháy rừng hiệu quả hơn. Thực tế cho thấy, ở những khu vực ngƣời dân có ý thức bảo vệ rừng tốt, tích cực tham gia công tác bảo vệ rừng thì rừng ở khu vực đó sẽ đƣợc bảo vệ tốt hơn, ít bị xâm hại hơn, vì họ là ngƣời sống gần rừng có điều kiện thuận lợi để kiểm soát và ngăn chặn các hành vi xâm hại rừng ở địa phƣơng. Xã Xuân Nha, huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La có diện tích tự nhiên là 9988. Trong đó: đất lâm nghiệp 4975.44ha, đất rừng sản xuất 2571.62ha, đất rừng phòng hộ 1443.08ha, đất rừng đặc dụng 960.
Cộng 1 đồng ngƣời dân địa phƣơng hầu hết có thu nhập bình quân thấp, chủ yếu là sản xuất thuần nông, nền sản xuất tự cung tự cấp giới hạn trong hộ gia đình, hiệu quả kinh tế từ việc quản lý rừng và đất rừng còn thấp, chƣa biết áp dụng khoa học công nghệ vào sản xuất cũng nhƣ phát triển kinh tế, việc khai thác tài nguyên rừng bừa bãi vẫn diễn ra với các hình thức nhƣ: Đốt nƣơng làm rẫy, khai thác gỗ, khai thác lâm sản ngoài gỗ, lấy mặt ông, lấy củi, săn bắt động vật hoang dã…Công tác bảo vệ rừng của địa phƣơng gặp rất nhiều khó khăn. Sự tham gia của ngƣời dân vào công tác bảo vệ rừng còn rất hạn chế nên cần có các giải pháp nhằm khuyến khích ngƣời dân tham gia vào công tác bảo vệ rừng. Xuất phát từ thực tế đó, tôi tiến hành khóa luận tốt nghiệp: “Nghiên cứu sự tham gia của ngƣời dân trong công tác bảo vệ rừng tại xã Xuân Nha, huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La” nhằm góp phần nâng cao công tác quản lý bảo vệ rừng dựa vào cộng đồng, hƣớng tới sự phát triển bền vững nguồn tài nguyên rừng tại địa phƣơng. 2 Chƣơng 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.
Trên thế giới Trên thế giới, nhiều công trình nghiên cứu về sự tham gia của ngƣời dân trong công tác quản lý bảo vệ rừng đƣợc các nhà khoa học tiến hành từ đầu thế kỷ XX. Việc nghiên cứu vào thời kỳ đầu chủ yếu tập trung ở một số quốc gia có nền kinh tế phát triển nhƣ: Mỹ, Nga, Đức, Thụy Điển, Canada, Pháp, Australia…Sau đó hầu hết các nƣớc có hoạt động lâm nghiệp đều tập trung nghiên cứu vấn đề này. Trong nhiều năm qua đã có những nghiên cứu về vấn đề này nhƣ: Các tác giả Nguyễn Bá Ngãi, Nguyễn Hồng Quân, Ernst Kuester [11], cho rằng: Rừng chủ yếu là nguồn cung cấp gỗ xây dựng và làm hàng rào, cung cấp củi, nơi chăn thả và chuồng trại cho gia súc, lợi tức, công ăn việc làm và đóng vai trò quan trọng trong việc vảo vệ đất và nƣớc trên vùng đất dốc. Các tác giả Apple Gate, G.A 1987[3], khi nghiên cứu kinh nghiệm tác nghiệp trong việc quản lý phát triển rừng tại vùng đồi Nêpan đã nhận thấy có mối quan hệ giữa rừng và các hệ canh tác hỗn hợp ở trung du miền núi.Cáctác giả cho rằng các hệ canh tác phụ thuộc nhiều vào rừng đang bị suy thoái nhanh.
Sự bền vững lâu dài của các hệ canh tác phụ thuộc vào việc gia tăng về diện tích dƣới bất cứ các dạng che phủ thực vật nào. Sự tham gia của ngƣời dân địa phƣơng tại một số nƣớc khu vực Đông Nam Á vào công tác bảo tồn đa dạng sinh học là cần thiết và thƣờng có hiệu quả. Nỗ lực của các cơ quan chính phủ nhằm đƣa dân chúng ra khỏi các Khu bảo tồn (KBT) đã không mang lại kết quả nhƣ mong muốn trên cả phƣơng diện quản lý tài nguyên rừng (TNR) và kinh tế xã hội. Việc đƣa ngƣời dân vốn quen sống trên địa bàn của họ đến một nơi mới và khi đó lực lƣợng khác có thể xâm lấn và khai thác TNR mà không có ngƣời bảo vệ.Ngƣời dân địa phƣơng có nhiều kiến thức truyền thống về việc sử dụng tài nguyên thiên 3 nhiên và các thể chế cộng đồng đã tỏ ra có hiệu quả trong việc quản lý các nguồn tài nguyên này [13].
Thái Lan là một nƣớc đƣợc các nƣớc trong khu vực và cả trên thế giới đánh giá cao về những thành tựu trong công tác xây dựng các chƣơng trình bảo vệ rừng trên cơ sở cộng đồng. Ở đây, sử dụng đất đai đƣợc thông qua chƣơng trình làng rừng, hộ nông dân đƣợc giao đất nông nghiệp, đất thổ cƣ, đất để trồng rừng. Ngƣời nông dân đƣợc chính phủ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có trách nhiệm quản lý đất, không đƣợc chặt hoặc sử dụng cây rừng. Việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hợp pháp đã làm gia tăng mức độ an toàn cho ngƣời đƣợc nhận đất.
Do vậy đã ảnh hƣởng tích cực đến việc khuyến khích dân đầu tƣ và tăng sức sản xuất của đất. Trong chiến lƣợc Quốc gia của Philippines về bảo tồn đa dạng sinh học chỉ ra rằng: “Điều chủ chốt dẫn đến thắng lợi cho bảo tồn đa dạng sinh học là phải bảo đảm rằng các cộng đồng địa phƣơng, những ngƣời bị ảnh hƣởng nhiều nhất bởi mọi ngƣời quyết định về chính sách liên quan đến môi trƣờng sẽ tham gia vào quá trình lập kế hoạch và quản lý đối với bảo tồn đa dạng sinh học [3]. Theo Bink Man W.1998 [3], trong tài liệu giới thiệu nghiên cứu định hình chi tiết về làng Ban Pong tỉnh S. Risaket (Thái Lan) chỉ ra rằng các tầng lớp nghèo phải phụ thuộc vào rừng để chăn thả gia súc và thu hái tài nguyên lâm sản nhƣ: củi đun và hoa quả trong rừng.
Đây là một minh họa rất cần thiết của ngƣời dân địa phƣơng tham gia vào việc lập kế hoạch và thiết kế các dự án phát triển.C trong tập ATLAT, cung cấp một mô tả chi tiết về mối tƣơng quan giữa rừng, lƣơng thực và nƣớc, giữa những ngƣời xây dựng ruộng bậc thang làm lúa nƣớc và những ngƣời canh tác nƣơng rẫy. Phần lớn các nghiên cứu trên thế giới mới chỉ có những phân tích định tính về sự phụ thuộc của các cộng đồng dân cƣ vào tài nguyên và khẳng định cần thiết phải có sự tham gia của ngƣời dân vào các hoạt động bảo tồn TNR. Tuy 4 nhiên, còn ít các nghiên cứu định lƣợng xác định những tác động củacộng đồng vào TNR và những nguyên nhân cụ thể dẫn tới những tác động đó vào TNR. Ở Việt Nam So với nhiều nƣớc trên thế giới và khu vực thì lịch sử thành lập các khu rừng đặc dụng ở Việt Nam tƣơng đối sớm.
Tháng 7/1962, Quyết định số 72/TTg của thủ tƣớng chính phủ thành lập khu rừng cấm Cúc Phƣơng rộng 25.000ha, sau này trở thành VQG đầu tiên của Việt Nam, bên cạnh đó, chính phủ còn ra các quyết định thành lập các khu rừng đặc dụng khác. Từ đó đến nay, Việt Nam đã có 128 khu rừng đặc dụng đƣợc thành lập [13]. Trƣớc hết để công tác bảo tồn đƣợc hiệu quả thì các quy định phải đƣợc thể chế hóa, trong đó bao gồm luật và các văn bản dƣới luật. Đó là các điều khoản đƣợc ghi trong Luật bảo vệ và phát triển rừng ban hành ngày 12/8/1991, Luật bảo vệ và phát triển rừng sửa đổi đƣợc ban hành ngày 03/12/2004; Nghị định số 117/2010/NĐ-CP ngày 24/12/2010 của Chính phủ quy định về tổ chức và quản lí rừng đặc dụng; Quyết định số 08/2001/QĐ- TTg ban hành ngày 11/01/2001 đã đề cập đến việc Ban quản lí các khu bảo vệ đƣợc xây dựng các quy định về phạm vi sử dụng rừng đối với ngƣời dân địa phƣơng sinh sống trong các KBT; thông tƣ số 78/2001/TT-BNNPTNT ngày 11/11/2011 của Bộ NN và PTNT về hƣớng dẫn việc thi hành Nghị định số 117/2010/NĐ-CP.
Gần đây nhất, Thủ tƣớng chính phủ có quyết định số 186/2006/QĐ-TTg ban hành ngày 14/08/2006 (Quyết định số 34/2001/QĐ- TTg ngày 24/06/2011 sửa đổi bổ sung một số điều của quyết định số 186/2006/QĐ – TTg ban hành ngày 14/08/2006) về quy chế quản lí rừng, thay thế quyết định số 08/2001/QĐ-TTg; quyết định số 24/2012/QĐ-TTg ngày 01/06/2012 của Thủ tƣớng chính phủ về chính sách đầu tƣ phát triển rừng đặc dụng giai đoạn 2011-2020. Trong đó, quản lí rừng đặc dụng đƣợc quy định rất cụ thể [16]. 5 Trong nhiều năm qua, đã có rất nhiều nhà khoa học quan tâm tới việc nâng cao hiệu quả của các KBTTN và Vƣờn quốc gia (VQG) theo quan điểm bảo tồn – phát triển. Đó là việc dung hòa mối quan hệ giữa bảo tồn tài nguyên thiên nhiên và phát triển kinh tế - xã hội của ngƣời dân địa phƣơng.
Các tác giả Donovan D, Rambo A.T, Fox J, Lê Trọng Cúc, Trần Đức Viên (1997)[3], đã đề cập đến các Snar phẩm từ rừng và sức ép của ngƣời dân địa phƣơng vào rừng. Nhóm tác giả đã chỉ ra rằng: Diện tích rừng già ở miền núi phía bắc Việt Nam đã giảm sút nghiêm trọng do việc khai thác gỗ, củi và các lâm sản khác nhƣ: tre nứa, nấm, cây dƣợc liệu, động vật hoang dã và đƣợc xem nhƣ là nguồn sinh kế chủ yếu của ngƣời dân miền núi.