phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 2 chương, 5 tiết 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHƢƠNG PHÁP HÌNH THỨC HOÁ VÀ VĂN BẢN PHÁP LUẬT 1. Một số vấn đề lý luận về phƣơng pháp hình thức hóa 1. Phương pháp hình thức hoá và những yêu cầu của phương pháp hình thức hóa 1. Khái niệm phương pháp hình thức hóa Mỗi một khoa học có một hệ thống phương pháp đặc thù riêng của mình.
Tuy vậy, các khoa học cũng không đóng kín mà chúng cũng thường sử dụng các phương pháp của nhau phục vụ cho mục tiêu nghiên cứu. Vì đối tượng nghiên cứu đã đặc thù, nên một cách tất nhiên, phương pháp mà nó đem lại hiệu quả cao nhất cũng đòi hỏi mang tính đặc thù. Chính vì lẽ đó, khi một khoa học đã phát triển đến tầm khá hoàn bị, thì nó sẽ quay lại nghiên cứu chính mình nhằm xác định đối tượng riêng, hệ thống khái niệm, phạm trù riêng, cũng như phương pháp đặc trưng của chính khoa học đó. Điều này có thể nhận thấy rõ ràng trong lịch sử triết học hơn hai nghìn năm qua của nhân loại.
Phương pháp siêu hình và phương pháp biện chứng xuất hiện và mang lại những lợi ích to lớn cho sự tồn tại và phát triển của tư tưởng triết học. Mỗi một trong số chúng được gắn với tên tuổi của một trường phái hay đại biểu nhất định trong lịch sử triết học, nhưng chúng không phải là phương pháp đặc thù của khoa học triết học. Vậy một câu hỏi được đặt ra là: Vậy phương pháp đặc thù của khoa học triết học là gì? Nói một cách khác, phương pháp biện chứng hay phương pháp siêu hình chưa cho phép khái quát thành phương pháp triết học chung nhất cho mọi trường phái triết học. Theo nhận định của nhiều nhà nghiên cứu, đối với khoa học triết học, phương pháp duy nhất mang tính đặc thù của nó phải gắn liền với tính khái quát, trừu tượng của tri thức triết học, cũng như thao tác tư duy truy cập tới nó.
Đó là phương pháp được áp dụng với một quy mô rộng lớn bao quát toàn bộ các lĩnh vực tự nhiên, xã hội và tư duy. 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Là khoa học sinh ra từ triết học, đồng thời cũng là một bộ phận của triết học, lôgíc học hình thức không thể không áp dụng phương pháp trừu tượng hoá và khái quát hoá của triết học. Nhưng khi tồn tại với tư cách là khoa học độc lập tương đối so với triết học, với những nội dung phản ánh và phương pháp phản ánh đặc thù, nên có thể khẳng định rằng, phương pháp hình thức hoá chính là phương pháp đặc trưng của lôgíc hình thức. Trong sự tồn tại của mình, nội dung của đối tượng bất kỳ được hiểu là tổng thể các bộ phận và quá trình liên hệ với nhau một cách xác định và tạo nên đối tượng hoặc hiện tượng.
Tương ứng thì nội dung của tư duy là những hiểu biết, tri thức của con người về thế giới xung quanh được cấu thành từ những ý nghĩ, tư tưởng. Còn hình thức của tư duy hay hình thức logic là kết cấu của tư tưởng, là phương thức liên hệ các bộ phận của tư tưởng. Đó là cái mà các tư tưởng cho dù khác nhau bao nhiêu về nội dung cụ thể, thì ở đó vẫn tương tự nhau. Trong logic hình thức, rõ ràng việc nghiên cứu mặt hình thức được ưu tiên hơn mặt nội dung của tư duy, song không có nghĩa là mặt nội dung của tư duy không có vai trò gì, vì trong bất kỳ tư duy nào cũng có một nội dung nhất định.
Cũng vì lẽ đó, trong logic học, chúng ta luôn thấy có hai khái niệm song hành nhau: tính đúng đắn (chính xác) hay không đúng đắn và tính chân thực hay giả dối của tư duy. Khi nói đến tính đúng đắn hay không đúng đắn tức là nói đến hình thức của tư duy, còn khi nói đến tính chân thực hay giả dối là nói đến nội dung phản ánh của tư duy có phù hợp với hiện thực hay không. Trong logic hình thức, tính đúng đắn hay không đúng đắn về mặt hình thức của tư duy giữ vai trò quan trọng, có tính quyết định. Điều đó có nghĩa là tính đúng đắn của tư duy là điều kiện cần nhưng chưa đủ nếu xem logic học như là công cụ của nhận thức chân lý.
Điều kiện đủ để cho tư duy nhận thức được chân lý khách quan chính là tính chân thực của nội dung. Đôi khi chúng ta gặp quan điểm cho rằng, dường như logic học hình thức được gọi là hình thức vì chỉ nghiên cứu các hình thức thuần túy của tư duy gác lại hoàn toàn nội dung của chúng. Quan điểm đó không chính xác. Sở dĩ logic học hình thức có thể trừu tượng hoá khía cạnh nội dung 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com của tư tưởng, để thao tác với các hình thức logic và phân tích chúng một cách riêng rẽ là do tính độc lập tương đối của hình thức logic, sự không phụ thuộc của nó vào nội dung cụ thể của tư tưởng.
Ngày nay, nói đến phương pháp hình thức hóa trong khoa học chủ yếu là nói đến sự tham gia của toán học hay logic học vào trong việc mô tả chính xác một nội dung nhận thức nào đó. Điều này đã được thể hiện rõ ràng, chẳng hạn như Descartes đã dùng lượng giác học để mô tả nội dung quy luật về sự khúc xạ ánh sáng, nhà bác học Galileo đã dùng đại số học để diễn tả nội dung quy luật về sự rơi của sự vật. Như vậy, cả Descartes và Galileo đã hình thức hóa các nội dung trên đây bằng ngôn ngữ toán học. Việc hình thức hóa nội dung nào đó bằng toán học không những được áp dụng trong lĩnh vực khoa học tự nhiên, mà còn cả trong các lĩnh vực của khoa học xã hội.
Weber và Fechner mô hình hóa mối quan hệ giữa cảm giác và vật kích thích (tâm vật lý học (psychophysique)), trong đó vật kích thích tăng theo cấp số nhân thì cảm giác tăng theo câp số cộng. Rõ ràng nhất là trong các nghiên cứu xã hội học, hầu như không thể không gặp các bảng thống kê và sử dụng phép tính xác suất. Như vậy, toán học và logic học rõ ràng là một công cụ lớn lao đối với khoa học, nó dùng thứ ngôn ngữ gọn gàng, chính xác để mô tả những mối quan hệ về lượng của các sự kiện khoa học. Vì ngôn ngữ thông thường không thể diễn ra những mối quan hệ thật chính xác, cho nên tất cả các quy luật cần có một thứ ngôn ngữ riêng, đó là lý do cốt yếu để các nhà vật lý học không thể bỏ qua toán học, logic học.
Toán học và logic học cung cấp cho họ thứ ngôn ngữ duy nhất để nói và viết. Tuy nhiên sự áp dụng toán học và logic học vào các khoa học khác có những giới hạn nhất định của nó. Một mặt, mức độ và ý nghĩa của sử dụng toán học, logic học không hoàn toàn giống nhau đối với các khoa học khác nhau, mặt khác, đối tượng nghiên cứu càng phức tạp và đa dạng thì càng khó áp dụng những ngôn ngữ toán học và logic học vào để hình thức hóa chúng. Chính vì lẽ đó, cho đến ngày nay, việc áp dụng toán học và logic học vào các khoa học xã hội còn hạn chế hơn so với các khoa học tự nhiên và khoa học kỹ thuật khác.
14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Như vậy, hình thức hóa là phương pháp mô tả chính xác nội dung của nhận thức bằng các công cụ như ngôn ngữ thông thường, ngôn ngữ toán học, ngôn ngữ logic. Có thể gọi ngôn ngữ thông thường như: tiếng nói, chữ viết là loại hình thức hóa đầu tiên. Sự vật hiện tượng khi được nói lên, viết ra thì những nội dung phong phú, phức tạp, muôn hình muôn vẻ của nó đã được hình thức hóa, tức chỉ còn giữ lại ở mức độ chung, trừu tượng, khái quát, đơn giản. Ở cấp độ thứ hai, nội dung của tư tưởng có thể được mã hóa dưới dạng các cấu trúc mệnh đề tuân theo các ngôn ngữ của toán học và logic học.
Đó chính là lúc người ta sử dụng phương pháp hình thức hóa. Vậy: “phương pháp hình thức hoá là phương pháp áp dụng các ký hiệu nhân tạo để mã hoá cấu trúc của tư tưởng trong sự trừu tượng nội dung cũng như giá trị chân thực hay giả dối của sự phản ánh, kết quả ta thu được lược đồ logic về nó”. (Xem 43; Tr 224 ) Ví dụ: Mô hình hóa câu phức sau: Cố ý phạm tội là phạm tội trong trường hợp nhận thức rõ hành vi của mình có tính chất nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó và mong muốn hoặc có ý thức để mặc hậu quả xảy ra. Để có thể mã hóa cấu trúc của một câu phức, ta cần thực hiện những bước sau: - Bước 1: Xác định các liên từ phân chia câu phức thành các câu thành phần - Bước 2: Đặt ký hiệu cho các câu thành phần - Bước 3 Chọn phép toán logic tương ứng với các liên từ logic Cụ thể như sau: Đặt S là cố ý phạm tội a: phạm tội trong trường hợp nhận thức rõ hành vi của mình có tính chất nguy hiểm cho xã hội b: người phạm tội thấy trước hậu quả của hành vi đó c: người phạm tội mong muốn hậu quả xảy ra d: người phạm tội có ý thức để mặc hậu quả xảy ra Ta có S là a, b và c hoặc d Mô hình mã hóa: S = [a ˄ b ˄ (c v d)] Từ công thức khái niệm cố ý phạm tội ta viết mô hình khái niệm vô ý phạm tội: 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Vô ý phạm tội = 7S = 7[a ˄ b ˄ (c v d)] = 7a v 7b v 7(c v d) = 7a v 7b v (7c ˄ 7d) 7a: hành vi thực hiện trong trường hợp không nhận thức rõ hành vi của mình có tính chất nguy hiểm cho xã hội.
Nên không xem là hành vi phạm tội.