CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THẨM ĐỊNH TÀI CHÍNH DỰ ÁN ĐẦU TƯ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Những vấn đề chung về thẩm định tài chính dự án đầu tư 1. Khái niệm dự án đầu tư Đầu tư phát triển có vai trò quan trọng đối với sự phát triển của một quốc gia, là một lĩnh vực hoạt động nhằm tạo ra và duy trì sự hoạt động của các cơ sở vật chất kỹ thuật của nền kinh tế. Đối với các cơ sở sản xuất kinh doanh dịch vụ, hoạt động đầu tư là một bộ phận trong hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm tăng thêm cơ sở vật chất kỹ thuật mới, duy trì sự hoạt động của cơ sở vật chất kỹ thuật hiện có, và vì thế là điều kiện để phát triển sản xuất kinh doanh, dịch vụ của các doanh nghiệp.
Tuy nhiên, để đảm bảo cho mọi công cuộc đầu tư được tiến hành thuận lợi, đạt được mục tiêu mong muốn, đem lại hiệu quả kinh tế xã hội cao thì trước khi bỏ vốn phải làm tốt công tác chuẩn bị. Mọi sự xem xét, tính toán và chuẩn bị này được thể hiện trong việc soạn thảo các dự án đầu tư, có nghĩa là các nhà đầu tư đều thực hiện theo dự án đầu tư. Vậy dự án đầu tư là gì? Theo Luật Đầu tư năm 2005 thì “Dự án đầu tư là tập hợp các đề xuất bỏ vốn trung và dài hạn để tiến hành các hoạt động đầu tư trên địa bàn cụ thể, trong khoảng thời gian xác định”. Xét về mặt hình thức, dự án đầu tư là một tập hồ sơ trình bày một cách chi tiết và có hệ thống tính vững chắc, hiện thực của một hoạt động sản xuất, kinh doanh, phát triển kinh tế xã hội theo các khía cạnh thị trường, kỹ thuật, tài chính, tổ chức quản lý và kinh tế xã hội.
Dự án đầu tư có vai trò rất quan trọng đối với chủ đầu tư, các nhà quản lý và tác động trực tiếp tới tiến trình phát triển kinh tế xã hội. Nếu không có 6 z dự án đầu tư, nền kinh tế sẽ khó có thể phát triển. Dự án đầu tư là căn cứ để các tổ chức tài chính đưa ra quyết định tài trợ, các cơ quan chức năng của Nhà nước phê duyệt và cấp giấy phép đầu tư và là công cụ quan trọng để chủ dự án đầu tư quản lý vốn vật tư, lao động trong quá trình thực hiện đầu tư. Do đó, hiểu được những đặc trưng của dự án đầu tư là một trong những yếu tố quyết định đến sự thành công của dự án đầu tư.
* Các đặc trưng cơ bản của một dự án đầu tư - Dự án đầu tư có mục đích, mục tiêu rõ ràng Dự án đầu tư không phải là những ý tưởng, nghiên cứu mang tính trừu tượng và chỉ trên giấy tờ mà nó phải nhằm đáp ứng một yêu cầu cụ thể được đặt ra, tức là khi xây dựng nên một dự án đầu tư, thì dự án đầu tư đó phải có mục tiêu hay mục đích cụ thể nào đó. - Dự án đầu tư có chu kỳ phát triển riêng và thời gian tồn tại hữu hạn Mỗi một dự án đầu tư đều là cơ hội kinh doanh hay cơ hội phát triển của một doanh nghiệp, một quốc gia nhất định, có chu kỳ phát triển riêng và thời gian tồn tại hữu hạn. Mọi sự chậm trễ sẽ tạo nên một kết cục không tốt, có thể làm lỡ mất cơ hội kinh doanh, cơ hội phát triển, kéo theo những bất lợi khác cho nhà đầu tư và có thể cho nền kinh tế. - Dự án đầu tư chịu sự ràng buộc về nguồn lực Các dự án đầu tư thường sẽ chịu một số ràng buộc nhất định, có thể về vốn, lao động, vật tư.
Dự án đầu tư càng lớn thì mức độ ràng buộc về nguồn lực càng cao và càng phức tạp; mọi quyết định liên quan đến các vấn đề nảy sinh trong quá trình thực hiện dự án đầu tư đều bị chi phối bởi nhiều mối quan hệ, có thể là chủ dự án đầu tư, nhà tài trợ, nhân công. và để đạt được mục tiêu của mình thì chủ dự án đầu tư phải xử lý tốt được các ràng buộc trên. - Dự án đầu tư có tính bất định và độ rủi ro cao 7 z Do dự án đầu tư tồn tại trong một môi trường không chắc chắn, một môi trường luôn biến động. Vì thế trong quá trình triển khai dự án đầu tư chứa đựng nhiều yếu tố bất định, do đó trong dự án đầu tư rủi ro thường lớn và có thể xảy ra.
Điều này ảnh hưởng rất lớn đến sự thành công của dự án đầu tư. Ví dụ, kinh tế bất ổn định làm cho giá cả nguyên vật liệu đầu vào tăng mạnh, nằm ngoài dự kiến làm cho việc thực hiện dự án đầu tư gặp khó khăn. Hoặc khi thị trường tài chính bất ổn định, kinh tế rơi vào suy thoái, khi đó lãi suất ngân hàng thay đổi có thể tăng cao, hoặc một số yếu tố tác động khác vì vậy ảnh hưởng đến tiến độ thực hiện dự án và như vậy, và như vậy dự án đầu tư có thể bị thất bại. Vì vậy, công tác TĐDA đầu tư đặc biệt quan trọng; thẩm định chính xác, kỹ lưỡng từ đó sẽ hạn chế được các tổn thất có thể xảy ra.
Phân loại dự án đầu tư Để thuận tiện cho việc theo dõi, quản lý và đề ra các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động đầu tư, cần tiến hành phân loại dự án đầu tư. Các dự án đầu tư có thể phân loại theo các tiêu thức như theo cơ cấu tái sản xuất, lĩnh vực hoạt động trong xã hội, các giai đoạn hoạt động của các dự án đầu tư trong quá trình tái sản xuất, thời gian thực hiện và phát huy tác dụng để thu hồi đủ vốn đã bỏ ra, sự phân cấp quản lý dự án, nguồn vốn. Các giai đoạn của dự án đầu tư Các giai đoạn của một dự án đầu tư là các bước hay các giai đoạn mà một dự án đầu tư phải trải qua bắt đầu từ khi dự án đầu tư mới chỉ là ý đồ cho đến khi dự án đầu tư được hoàn thành chấm dứt hoạt động. Ta có thể minh họa các giai đoạn của dự án đầu tư theo hình sau đây: Ý đồ về Chuẩn bị Thực hiện Vận hành Ý đồ về dự án đầu tư đầu tư các kết quả dự án đầu tư đầu tư mới 8 z Hình 1.1: Các giai đoạn của dự án đầu tư Từ ý tưởng của dự án đầu tư đến việc xây dựng, thực hiện và kết thúc dự án đầu tư là cả một quá trình.
Quá trình này thường được chia làm 3 giai đoạn và trong mỗi giai đoạn lại gồm rất nhiều công việc diễn ra vừa tuần tự vừa đan xen nhau. Sau đây là các giai đoạn với các bước và công việc chính của một chu trình dự án đầu tư: Giai đoạn 1: Chuẩn bị đầu tư Giai đoạn này gồm những bước chính như sau: (i) Nghiên cứu cơ hội đầu tư/(ii) Nghiên cứu tiền khả thi/(iii)Nghiên cứu khả thi/(iv) Thẩm định để ra quyết định đầu tư. Nghiên cứu cơ hội đầu tư là nghiên cứu những khả năng, những điều kiện để chủ đầu tư có thể tiến hành đầu tư. Mục đích của nó là tìm ra được cơ hội đầu tư phù hợp nhất đối với chủ đầu tư.
Việc nghiên cứu cơ hội đầu tư có tác dụng xác định một cách nhanh chóng và ít tốn kém nhưng lại dễ thấy về các khả năng đầu tư trên cơ sở những thông tin cơ bản đưa ra đủ để làm người có khả năng đầu tư cân nhắc, xem xét và đi đến quyết định có triển khai tiếp sang giai đoạn nghiên cứu sau hay không. Nghiên cứu khả thi là sự lựa chọn cuối cùng cơ hội đầu tư nên chủ đầu tư phải tiến hành nghiên cứu hết sức chi tiết, mỉ mỉ, toàn diện, triệt để những nội dung về thị trường, tài chính, kinh tế, kỹ thuật… có ảnh hưởng đến công cuộc đầu tư. Điều đáng chú ý là nghiên cứu khả thi diễn ra trong trạng thái động, tức là có tính đến những yếu tố bất định có thể xảy ra theo từng nội dung cụ thể. Thẩm định để đưa ra quyết định đầu tư.
Trên cơ sở kết quả nghiên cứu khả thi sẽ tổ chức thẩm định để đi đến quyết định có thực hiện đầu tư hay không. Giai đoạn 2: Thực hiện đầu tư 9 z Đây là giai đoạn tiến hành các hoạt động nhằm tạo nên cơ sở vật chất kỹ thuật, tiền đề cho dự án đầu tư đi vào giai đoạn sau cùng. Giai đoàn này gồm những bước chính như sau: (i) Xin giao đất hoặc thuê đất (đối với dự án có sử dụng đất)/(ii) Xin giấy phép xây dựng (nếu yêu cầu phải có giấy phép xây dựng) và giấy phép khai thác tài nguyên (nếu có khai thác tài nguyên)/(iii) Thực hiện đền bù giải phóng mặt bằng/(iv) Đàm phán ký kết các hợp đồng/(v) Thiết kế và lập dự toán thi công công trình/(vi) Thi công xây lắp công trình/(vii) Vận hành chạy thử nghiệm thu công trình. Giai đoạn 3: Vận hành kết quả đầu tư Đây là giai đoạn cuối cùng của dự án đầu tư.
Thực chất của giai đoạn này là đưa công trình đã được xây dựng, lắp đặt xong vào vận hành, khai thác. Tức là, thực hiện tổ chức sản xuất kinh doanh nhằm đạt được các mục tiêu của dự án đầu tư đề ra, trong đó mục tiêu chủ yếu là thu hồi vốn và có lợi nhuận. Ở những năm đầu, khi dự án đầu tư mới đi vào hoạt động, do tình hình chưa ổn định nên công suất thực tế đạt được không cao. Vì vậy, ở năm thứ nhất, công suất thực tế chỉ nên tính khoảng 50% công suất thiết kế, năm thứ hai cao hơn, khoảng 75%.
Công suất thiết kế thực tế đạt được ở mức cao nhất thường là từ năm thứ 3 trở đi và khi đó cũng chỉ nên tính ở mức xấp xỉ 90% công suất thiết kế. Thẩm định tài chính dự án đầu tư tại các NHTM 1. Hoạt động cho vay theo dự án đầu tư của NHTM Hoạt động cho vay và đầu tư là hoạt động mang lại thu nhập chủ yếu cho ngân hàng. Thông qua hoạt động này ngân hàng có thể bù đắp được các chi phí cho việc huy động vốn.
Trong đó, hoạt động cho vay chiếm vị trí quan 10 z trọng hơn cả, ngân hàng có khả năng đối diện với rủi ro mất vốn là rất lớn, quyết định sự tồn tại của mọi ngân hàng.