CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG 1. Công ty tài chính 1. Khái niệm Công ty tài chính Theo “Luật các tổ chức tín dụng” số 47/2010/QH12 ngày 17/06/2010, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2011 quy định: “Tổ chức tín dụng phi ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện một hoặc một số hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật này, trừ các hoạt động nhận tiền gửi của cá nhân và cung ứng các dịch vụ thanh toán qua tài khoản của khách hàng. Tổ chức tín dụng phi ngân hàng bao gồm công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính và các tổ chức tín dụng phi phân hàng khác.
Công ty cho thuê tài chính là loại hình công ty tài chính có hoạt động chính là cho thuê tài chính theo quy định của Luật này” (Điều 4, khoản 4) Theo đó, Công ty Tài chính là tổ chức tín dụng phi ngân hàng, được thực hiện một số các hoạt động ngân hàng theo quy định nhưng không được huy động tiền gửi của cá nhân, tiền gửi dưới 01 (một) năm của tổ chức và không được thực hiện chức năng thanh toán. Khái niệm này quy định hoạt động và chức năng riêng biệt của Công ty tài chính khi so sánh với các tổ chức tín dụng khác. Phân loại Công ty tài chính Công ty tài chính chủ yếu được chia ra làm 3 loại chính sau đây: a. Công ty tài chính thương mại: gồm công ty tài chính bao thanh toán, công ty tài chính cho thuê tài sản, công ty tài chính cho vay đảm bảo bằng giấy sở hữu - Công ty tài chính bao thanh toán: Bao thanh toán là hình thức cấp tín dụng cho bên bán hàng hoặc bên mua hàng thông qua việc mua lại có bảo lưu quyền truy đòi các khoản phải thu hoặc các 6 z khoản phải trả phát sinh từ việc mua, bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ theo hợp đồng mua, bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ Các công ty tài chính kinh doanh cung cấp các dạng tín dụng chuyên môn hóa tới các doanh nghiệp bằng cách thực hiện các khoản vay và mua những khoản phải thu với một mức giá chiết khấu, thường được gọi là công ty tài chính bao thanh toán.
Các công ty tài chính bao thanh toán cũng cung cấp tài trợ các khoản phải thu mà không giữ quyền sở hữu với khoản phải thu đó. Trong trường hợp này, công ty tài chính nhận các chứng từ từ doanh nghiệp, cho doanh nghiệp quyền được thu và giữ các khoản phải thu nếu đối tác không trả được nợ cho công ty tài chính. Nhiều doanh nghiệp thích kiểu dàn xếp này hơn là bao thanh toán bởi nó vẫn để lại cho họ quyền kiểm soát đối với các khoản phải thu. Họ có thể làm việc với những khách hàng của mình nếu cần có những dàn xếp cụ thể để đảm bảo việc thanh toán.
- Công ty tài chính cho thuê tài sản: Các công ty tài chính kinh doanh cũng chuyên môn hóa vào việc cho thuê thiết bị mà họ mua về rồi cho thuê tới các doanh nghiệp trong một thời gian nhất định. Trên thực tế, phần lớn tăng trưởng của các công ty tài chính trong những năm gần đây có nguồn gốc từ cho thuê tài sản tới các hãng kinh doanh. - Công ty tài chính cho vay đảm bảo bằng giấy sở hữu. Một số nhà chế tạo ô tô đòi hỏi các nhà bán lẻ chấp nhận việc giao ô tô trong cả năm, mặc dù việc bán thường mang tính thời vụ.
Để giúp các nhà bán lẻ thanh toán cho những chiếc xe lưu kho, công ty tài chính chào các khoản vay đảm bảo bằng giấy sở hữu. Trong một dàn xếp như thế, công ty tài chính sẽ trả tiền cho số ô tô của nhà bán lẻ đang lưu kho, nhận được từ nhà sản xuất và đặt một quyền xiết nợ lên mỗi chiếc xe trong phòng trưng bày. Khi một chiếc xe được bán, nhà bán lẻ phải hoàn trả khoản nợ đã mang đối với chiếc xe đó để nhận lại được giấy chứng nhận quyền sở hữu chiếc xe từ công ty tài chính. Nhà bán lẻ cũng phải trả cho công ty tài chính tiền lãi trên khoản vay này cho tới khi hàng lưu kho được bán đi.
Tài trợ qua khoản vay đảm bảo bằng giấy sở hữu 7 z là thông dụng nhất trong ngành ô tô vì loại hàng này có những giấy sở hữu mà công ty tài chính có thể nắm giữ để đảm bảo cho khoản vay của họ. Cách tài trợ này cũng tồn tại trong những ngành khác nơi mà tài sản có các giấy tờ sở hữu đi kèm như thiết bị xây dựng hay tàu thuyền. Giữa công ty tài chính và nhà bán lẻ thường hình thành một mối quan hệ chặt chẽ bởi mỗi thương vụ đều cần có sự phối hợp của cả hai bên. Công ty tài chính tiêu dùng Công ty tài chính tiêu dùng thực hiện các khoản vay tới người tiêu dùng để mua những mặt hàng như đồ nội thất hay các thiết bị gia dụng hoặc để sửa chữa nhà.
Công ty tài chính tiêu dùng là những công ty riêng biệt hoặc do các ngân hàng làm chủ sở hữu. Những công ty này thường thực hiện những khoản vay tới những người tiêu dùng mà không nhận được tín dụng từ nguồn khác do thu nhập thấp hoặc do lịch sử tín dụng không tốt. Ngoài các hoạt động cấp tín dụng tiêu dùng dưới hình thức cho vay mua trả góp và cho vay trực tiếp bằng tiền, công ty tài chính tiêu dùng còn cung ứng các dịch vụ tư vấn tài chính, ngân hàng, tiền tệ và đầu tư về tiêu dùng cho khách hàng. Công ty tài chính doanh số Công ty tài chính doanh số thực hiện các khoản vay tới những người tiêu dùng để mua những mặt hàng từ một nhà bán lẻ hay một nhà chế tạo cụ thể.
Những công ty tài chính doanh số này trực tiếp cạnh tranh với các ngân hàng để thực hiện các khoản vay tiêu dùng và được người tiêu dùng sử dụng bởi các khoản vay có thể nhận được một cách tiện lợi và nhanh chóng ngay chính tại nơi mà khách hàng mua sản phẩm. Một công ty tài chính doanh số do nhà chế tạo sở hữu để thực hiện các khoản vay tới khách hàng, giúp tài trợ việc mua sản phẩm của nhà chế tạo này. Lãi suất được chào bởi những công ty này thường thấp hơn lãi suất của ngân hàng hoặc của các công ty tài chính khác để tăng doanh số. Lợi nhuận thu được trên doanh số sẽ bù lại những khoản thất thoát trên khoản vay.
8 z Nhìn chung, các công ty tài chính được xem như một hãng kinh doanh bên cạnh các định chế tài chính nhận tiền gửi, với tài sản chủ yếu là khoản vay tới các cá nhân và doanh nghiệp. Các công ty tài chính giống với các ngân hàng ở chỗ: chúng cùng là các trung gian tài chính vay quỹ để cho vay lại, kiếm lợi nhuận trên khoản chênh lệch giữa lãi suất trên quỹ vay và lãi suất trên khoản vay. Công ty tài chính cũng phải chấp hành các mức trần được quy định đối với lãi suất cho vay tối đa đối với một khách hàng riêng lẻ và bị quy định về mức độ có thể thu hồi được các khoản vay. Tuy nhiên, do các công ty tài chính không nhận tiền gửi nên họ không chịu sự giám sát của các cơ quan quản lý như đối với các ngân hàng, cho dù họ cung cấp các dịch vụ cạnh tranh trực tiếp với các ngân hàng đó, như các khoản vay tiêu dùng trả góp hay khoản vay cầm cố nhà.
Do không bị giám sát, các công ty tài chính rộng đường cung cấp nhiều dịch vụ như ngân hàng nhưng lại tránh được các quy định áp dụng cho ngân hàng. Về mặt tổ chức, công ty tài chính là tổ chức kinh doanh chuyên nghiệp trên thị trường tài chính, hạch toán độc lập, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật. Quy mô công ty tài chính thường là nhỏ và vừa và không có nhiều chi nhánh như các ngân hàng thương mại. Về hoạt động, khác với ngân hàng thương mại (được hoạt động trên cả ba khâu: nhận tiền gửi, cho vay và thanh toán), hoạt động của công ty tài chính hẹp hơn, giới hạn ở một số khâu và mang tính chuyên biệt trong một số nghiệp vụ nhất định.
Hoạt động của các ngân hàng thương mại chủ yếu là tập hợp các khoản tiền gửi nhỏ để cho vay các khoản tiền lớn, trong khi các công ty tài chính lại huy động những khoản tiền lớn rồi chia ra để cho vay những khoản tiền nhỏ. Một điểm khác biệt đặc trưng là công ty tài chính không được huy động các dạng tiền gửi như ngân hàng thương mại cũng như không được thực hiện dịch vụ thanh toán. Những vấn đề cơ bản của thẩm định dự án đầu tư 1. Khái niệm, mục đích, yêu cầu của thẩm định dự án đầu tư a.
Khái niệm: - Đầu tư: theo nghĩa rộng, nói chung là sự hi sinh các nguồn lực ở hiện tại để tiến hành các hoạt động nào đó nhằm thu về cho người đầu tư các kết quả nhất định trong tương lai lớn hơn các nguồn lực đã bỏ ra. Đối với các doanh nghiệp hiểu đơn giản đầu tư là việc bỏ vốn kinh doanh để mong thu được lợi nhuận trong tương lai. Trên quan điểm xã hội thì đầu tư là hoạt động bỏ vốn phát triển từ đó thu được các hiệu kinh tế xã hội vì mục tiêu phát triển quốc gia. [1] - Dự án đầu tư: Theo Nghị định 52/1999/NĐ-CP ngày 08/07/1999 về Quy chế quản lý đầu tư và xây dựng cơ bản: "Dự án đầu tư là một tập hợp những đề xuất có liên quan đến việc bỏ vốn để tạo mới, mở rộng hoặc cải tạo những cơ sở vật chất nhất định nhằm đạt được sự tăng trưởng về số lượng hoặc duy trì, cải tiến, nâng cao chất lượng của sản phẩm hoặc dịch vụ trong khoảng thời gian xác định.” - Thẩm định dự án đầu tư: là việc phân tích, đánh giá, xem xét một cách khách quan, có khoa học và toàn diện các nội dung cơ bản ảnh hưởng trực tiếp tới tính khả thi của một dự án để từ đó ra các quyết định đầu tư, cho phép đầu tư hay ra các quyết định tài trợ.
[1] Đối với các nhà tài trợ, tổ chức cho vay, ngân hàng : Thẩm định dự án đầu tư là một quá trình được thực hiện bằng kỹ thuật phân tích dự án đã được thiết lập trên cơ sở những chuẩn mực, nhằm rút ra những kết luận làm căn cứ quyết định cho khách hàng vay vốn đầu tư dự án.