Phần mở đầu Chƣơng 1: Cơ sở lý luận của đề tài Chƣơng 2: Tổ chức và phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng 3: Kết quả nghiên cứu thực tiễn Kết luận và kiến nghị Tài liệu tham khảo Phụ lục 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 1. Nghiên cứu thái độ ở các nước trên thế giới Trong Tâm lý học, vấn đề thái độ (attitude) thƣờng xuyên đƣợc xem là một trong những trọng tâm nghiên cứu của các nhà khoa học. Ngƣời đầu tiên khởi xƣớng việc nghiên cứu thái độ chủ quan của nhân cách là A. Theo ông, đời sống tâm lý thực của con ngƣời đƣợc chia làm hai lĩnh vực: cái tâm lý bên trong và cái tâm lý bên ngoài, trong đó, cái tâm lý bên ngoài chính là hệ thống thái độ của nhân cách với môi trƣờng xung quanh.
Sau này, khi phân tích lịch sử nghiên cứu thái độ, nhà tâm lý học Shikhirep đã chia thành ba thời kỳ cơ bản và sự phân chia này đƣợc nhiều nhà tâm lý học đồng ý.318] - Thời kỳ thứ nhất (từ năm 1918 - Đại chiến Thế giới lần thứ 2): khái niệm “thái độ” lần đầu tiên đƣợc sử dụng khi hai nhà Tâm lý học Mỹ W.Znaiecki nghiên cứu về sự thích ứng của những ngƣời nông dân Ba Lan khi họ di cƣ sang Mỹ. Chính sự thích nghi của họ với sự thay đổi môi trƣờng ở xã hội Mỹ, sự thay đổi các giá trị cũ bằng các giá trị mới đã đƣợc hai ông chú ý tới. Từ sự phát hiện này của W.Znaiecki đã dẫn tới sự bùng nổ các cuộc nghiên cứu về thái độ xã hội. Và các công trình nghiên cứu đã tập trung tìm hiểu định nghĩa, cấu trúc, chức năng và mối quan hệ giữa thái độ - hành vi.
- Thời kỳ thứ 2 (từ Đại chiến Thế giới lần 2 - cuối những năm 50 của thế kỷ XX): biểu hiện cơ bản của thời kỳ này là sự hoài nghi vai trò của thái độ trong việc chi phối hành vi. Chính kết luận của La Piere: những gì chúng ta nói và chúng ta làm đôi khi rất khác nhau (nghĩa là khoảng cách giữa thái độ và hành vi là rất lớn - sau này kết luận này đƣợc mang tên “nghịch lý La Piere”) đã đặt nền móng cho sự hoài nghi trên. Kết luận này tuy không phủ nhận toàn bộ các cố gắng nghiên cứu về thái độ thông qua sự biểu hiện bằng lời của các công trình đi trƣớc, nhƣng vì nhiều nguyên 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nhân khác nhau nhƣ: chiến tranh, hoặc có sự bế tắc trong việc lý giải các nghịch lý nảy sinh mà số lƣợng các công trình nghiên cứu về thái độ ở giai đoạn này có sự giảm sút đáng kể. - Thời kỳ thứ 3 (từ cuối những năm 50 đến nay): có thể nói đây là thời kỳ phục hồi của các nghiên cứu thái độ.
Và vấn đề thái độ đã có một vị trí xứng đáng trong các công trình nghiên cứu của Tâm lý học xã hội. đã tiếp tục đƣa ra những quan niệm mới về định nghĩa, cấu trúc và chức năng của thái độ. Thời kỳ này cũng đã chứng kiến sự xuất hiện của những “tiểu lý thuyết” nhƣ: lý thuyết giải thích mối quan hệ giữa thái độ - hành vi, “thuyết bất đồng nhận thức”; “thuyết tự thể hiện”, “thuyết tự tri giác”, lý thuyết về các phƣơng pháp nghiên cứu sự hình thành, thay đổi thái độ, các thang đo thái độ: “phương pháp điện cơ mặt”, đo quan điểm giáo điều, kỹ thuật “đường ống giả vờ - bogus pipeline” [13,tr. Trong các nghiên cứu nhằm lý giải tại sao hành vi lại ảnh hƣởng tới thái độ của con ngƣời có hai học thuyết gây ảnh hƣởng khá lớn tới các nghiên cứu về sau.
Trƣớc hết đó là thuyết bất đồng nhận thức hay còn gọi là thuyết tự bào chữa của Leon Festinger cho rằng: Bất đồng nhận thức diễn ra khi hành vi mâu thuẫn với thái độ. Theo thuyết này thì sự căng thẳng giữa các hành vi và thái độ thƣờng đƣợc chúng ta làm giảm bớt bằng cách bào chữa cho suy nghĩ chứ không phải hành động của mình. Tuy nhiên, không phải tất cả các nhà tâm lý học đều thoả mãn với học thuyết của Festinger. Daryl Bem là một ví dụ.
Ông cho rằng quan điểm của thuyết “bất đồng nhận thức’’ quá dựa vào yếu tố bên trong, những yếu tố khó lƣợng hóa, khó đo lƣờng. Đồng thời, theo Dary Bem, chúng ta nên tránh những khái niệm nhƣ “nhận thức” hay “sự khó chịu về mặt tâm lý” và thay chúng bằng những thuật ngữ mang tính hành vi hơn. Và học thuyết tự tri giác của ông ra đời năm 1967. Đây là học thuyết về mối quan hệ giữa thái độ và hành vi.
Học thuyết này nhấn mạnh: khi thái độ của chúng ta không 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com rõ ràng hoặc cƣờng độ của nó quá yếu, chúng ta sẽ chỉ đơn giản quan sát hành vi của mình và tình huống mà nó diễn ra rồi suy luận về thái độ của bản thân. Khi bình luận về các công trình nghiên cứu ở phƣơng Tây, các nhà tâm lí học Xôviết P. Petrovxki đã khẳng định rằng: đặc điểm của tình trạng nghiên cứu thái độ thời gian này ở phƣơng Tây là có nhiều công trình và phƣơng pháp cụ thể nghiên cứu thái độ, nhƣng lại bế tắc về phƣơng pháp luận trong việc lý giải các số liệu thực nghiệm, cũng nhƣ trong việc tìm kiếm cơ sở khách quan của thái độ [4, tr. Theo Lomov, ý nghĩa của việc nghiên cứu thái độ trong tâm lí học phƣơng Tây chỉ thể hiện ở việc giúp đỡ cho việc hệ thống hoá các số liệu kinh nghiệm.
Các hiện tƣợng đƣợc lý giải trong tâm lý học phƣơng Tây có thể đƣợc quy về các thái độ, nhƣng cơ sở khách quan của chúng không đƣợc làm rõ, hay đôi khi nói đến cơ sở khách quan của thái độ, ngƣời ta cố tìm ra các thuộc tính di truyền sinh lý của cá nhân [12, tr. Các nhà tâm lý học thuộc trƣờng phái tâm lý học Mác xít đã có nhiều công trình nghiên cứu về thái độ thể hiện qua một số học thuyết nhƣ: thuyết định vị của V.Iadov, thuyết thái độ nhân cách của V. Miasixev… Thuyết định vị của V.Iadov cho rằng con ngƣời có hệ thống các tổ chức định vị phức tạp, đƣợc tổ chức bốn bậc theo các mức độ khác nhau, định vị bậc cao có thể chi phối định vị bậc thấp [8, tr. Bậc 1: các tâm thế bậc thấp hình thành trên cơ sở các nhu cầu, các tình huống đơn giản; bậc 2: các định vị phức tạp hơn hình thành trên cơ sở các tình huống giao tiếp trong nhóm nhỏ; bậc 3: các định hƣớng chung của các sở thích đƣợc hình thành trong những lĩnh vực hoạt động xã hội cụ thể; bậc 4: hệ thống định hƣớng giá trị, điều chỉnh hành vi và hoạt động của nhân cách trong những tình huống nhất định.
11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Nhƣ vậy, theo lý thuyết này, tâm thế là một dạng định vị, điều chỉnh hành vi, phản ứng của cá nhân trong những tình huống đơn giản và nó giúp cho việc điều chỉnh hành vi của cá nhân trong nhóm nhỏ, trong nghề nghiệp, trong hệ thống xã hội. Điều này cho phép lý giải hợp lý hành vi xã hội của cá nhân cũng nhƣ mâu thuẫn giữa hành vi và thái độ. Tuy có những thành công nhất định nhƣng thuyết này chƣa làm rõ nội hàm khái niệm “định vị” và cơ chế điều chỉnh hành vi bằng những định vị trong tình huống xã hội. Tuy nhiên, thuyết “định vị” đã cho chúng ta cách nhìn nhận thái độ ở một góc độ mới, cho phép thiết lập sợi dây liên hệ giữa các cách tiếp cận vấn đề hành vi của nhân cách từ góc độ tâm lý học đại cƣơng, xã hội học và tâm lý học xã hội.
Thuyết thái độ nhân cách của V. Miaxisev: Dựa trên tƣ tƣởng “khía cạnh quan trọng của nhân cách là thái độ của cá nhân với môi trường, thái độ đối với nghề nghiệp, với sở hữu và với người khác” của A.Lazurxki và xuất phát từ lập trƣờng Macxit, V. Miaxisev đã đề ra thuyết về thái độ chủ quan của cá nhân và đó là “thuyết thái độ nhân cách”.Miaxisev đã coi nhân cách nhƣ một hệ thống thái độ, ông viết: “thái độ, dưới dạng chung nhất, là hệ thống trọn vẹn các mối liên hệ cá nhân, có chọn lọc, có ý thức của nhân cách với các khía cạnh khác nhau của hiện thực khách quan”. Miaxisev lại cho rằng: hiểu theo nghĩa rộng thì tất cả các dạng hoạt động tâm lý đều có thể xem nhƣ một dạng nào đó của thái độ, mọi nhu cầu, hứng thú, thị hiếu, tình cảm, ý chí, tính cách, các quá trình tâm lý, sự đánh giá đều là thái độ.
Nhƣ vậy, với “Thuyết thái độ nhân cách”, V.Miaxisev là một trong những ngƣời đặt nền móng cho sự ra đời của Tâm lý học thái độ theo quan điểm Macxit. Tuy vậy, lý thuyết này cũng còn những hạn chế nhƣ: chƣa làm rõ đƣợc ảnh hƣởng qua lại giữa quan hệ xã hội với thái độ chủ quan của cá nhân; việc xếp các quan hệ xã hội ngang hàng với thái độ, nhận thức, xúc cảm, ý chí, thị hiếu là chƣa thỏa đáng; và việc coi một loạt các hiện 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com tƣợng tâm lý đã nêu ở trên là thái độ là chƣa có cơ sở khoa học. Tuy nhiên, chúng ta không thể phủ nhận những đóng góp to lớn của V.Miaxisev trong việc nghiên cứu vấn đề thái độ. Thuyết thái độ chủ quan của B.Lomov: Theo ông, tính chất và động thái của thái độ chủ quan đƣợc hình thành ở mỗi cá nhân phụ thuộc vào vị trí mà nó chiếm chỗ trong hệ thống các quan hệ xã hội và sự phát triển của nó trong hệ thống đó [12,tr.
Ngoài ra, Lomov khẳng định tính nhiều chiều, nhiều tầng và cơ động của thái độ chủ quan trong một hệ thống phức tạp đƣợc gọi là “không gian chủ quan đa chiều”, trong đó mỗi chiều đo trong không gian tƣơng ứng với một thái độ chủ quan cụ thể nào đó và đƣợc E. Erikson gọi là các “cung thái độ có ý nghĩa”. Không gian chủ quan không phải lúc nào cũng trùng hợp với không gian các quan hệ xã hội mà các cá nhân tham gia một cách khách quan. Ta thƣờng gặp sự “pha trộn” thái độ chủ quan của cá nhân với các quan hệ xã hội mà cá nhân tham gia một cách khách quan.