phần mở đầu, phần kết luận gồm 3 chƣơng sau: LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 Chƣơng I: Bảo hiểm Việt Nam và những cam kết hội nhập quốc tế của Việt Nam trong lĩnh vực bảo hiểm Chƣơng II: Hoạt động của các doanh nghiệp bảo hiểm nƣớc ngoài tại Việt Nam và những thách thức đối với doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam Chƣơng III: Một số giải pháp cho các doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam nhằm vƣợt qua thách thức Đề tài đƣợc tiến hành trong điều kiện công tác thống kê của toàn ngành chƣa hoàn thiện, việc trao đổi và cập nhật thông tin giữa các cơ quan quản lý bảo hiểm, hiệp hội bảo hiểm còn nhiều hạn chế, bởi vậy luận văn không tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận đƣợc sự thông cảm và nhiệt tình đóng góp của thầy, cô và bạn bè. Tôi xin chân thành cảm ơn khoa Sau Đại học, các thầy, cô là giảng viên cho lớp Cao học 14 trƣờng Đại học Ngoại Thƣơng, Hà Nội đã nhiệt tình giảng dạy, truyền bá những kiến thức quý báu, sâu rộng giúp tôi có nền tảng khoa học khi thực hiện đề tài nghiên cứu này. Tôi xin gửi lời cảm ơn và tỏ lòng biết ơn đặc biệt tới PGS.TS Nguyễn Nhƣ Tiến, ngƣời thầy đã tận tình hƣớng dẫn tôi trong quá trình thực hiện đề tài này. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 CHƢƠNG 1: BẢO HIỂM VIỆT NAM VÀ NHỮNG CAM KẾT HỘI NHẬP QUỐC TẾ CỦA VIỆT NAM TRONG LĨNH VỰC BẢO HIỂM 1.1 Vài nét về thị trƣờng bảo hiểm Việt Nam 1.1 Quá trình ra đời và phát triển của thị trƣờng bảo hiểm Việt Nam Cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20 bảo hiểm đã xuất hiện ở Việt Nam nhƣng dƣới hình thức đại lý bảo hiểm của nƣớc ngoài.
Hầu hết những luật lệ, quy định về bảo hiểm trong giai đoạn này là của Pháp. Đến năm 1964, do yêu cầu cấp bách trong việc thực hiện các biện pháp cấp thiết để đảm bảo an toàn cho con ngƣời, tài sản, và các phƣơng tiện vận tải trong hoàn cảnh chiến tranh, ngày 17/12/1964 Chính phủ quyết định thành lập Công ty bảo hiểm Việt Nam (nay là Tổng Công ty bảo hiểm Việt Nam). Với hơn 40 năm hình thành và phát triển, có thể nói thị trƣờng bảo hiểm Việt Nam có thể chia thành ba giai đoạn nhƣ sau: Giai đoạn 1965 - 1986 Trong giai đoạn này, trên thị trƣờng chỉ có duy nhất một công ty bảo hiểm của Nhà nƣớc hoạt động, đó là Công ty bảo hiểm Việt Nam. Bên cạnh chức năng độc quyền là cung cấp các dịch vụ bảo hiểm cho thị trƣờng nội địa, Công ty bảo hiểm Việt Nam còn giữ vai trò quản lý Nhà nƣớc và điều hành hoạt động của thị trƣờng bảo hiểm trong nƣớc.
Sản phẩm bảo hiểm trong giai đoạn này hết sức nghèo nàn. Tuy có đủ 3 loại hình bảo hiểm là bảo hiểm tai nạn, bảo hiểm trách nhiệm dân sự và bảo hiểm con ngƣời nhƣng số lƣợng nghiệp vụ và sản phẩm không nhiều. Giai đoạn 1987 – 1994 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 Cùng với tác động của công cuộc đổi mới kinh tế, Công ty bảo hiểm Việt Nam (Bảo Việt) cũng chuyển hƣớng hoạt động của mình cho phù hợp hơn với cơ chế thị trƣờng. Tuy nhiên, trong thời gian này, Bảo Việt vẫn nắm giữ vai trò độc quyền trên thị trƣờng bảo hiểm Việt Nam.
Số lƣợng nghiệp vụ và sản phẩm bảo hiểm trong giai đoạn này khoảng trên 30 loại hình. Năm 1989, Bảo Việt đƣợc Nhà nƣớc chuyển đổi thành Tổng công ty bảo hiểm Việt Nam với các công ty bảo hiểm trực thuộc ở tất cả các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ƣơng. Giai đoạn 1994 đến nay Vào năm 1994, khi Chính phủ quyết định mở cửa thị trƣờng bảo hiểm bằng việc cho phép các công ty bảo hiểm khác đƣợc ra đời, vai trò độc quyền của Bảo Việt chấm dứt. Theo đánh của Bộ Tài chính thì vào thời điểm đó , Bảo Việt mới chỉ đáp ứng đƣợc từ 10-15% nhu cầu thị trƣờng.
Sau năm 1994, một loạt công ty bảo hiểm trong nƣớc đƣợc thành lập. Các khách hàng chủ yếu của thị trƣờng bảo hiểm trong giai đoạn này vẫn là các doanh nghiệp quốc doanh lớn nhƣ Tổng Công ty hàng không Việt Nam, Petro Việt Nam, Tổng Công ty than. Bên cạnh đó, hệ thống các liên doanh giữa doanh nghiệp Việt Nam và nƣớc ngoài cũng là những khách hàng quan trọng của thị trƣờng bảo hiểm. Theo các quy định của Chính phủ về kinh doanh bảo hiểm và luật đầu tƣ nƣớc ngoài, tất cả các dự án đầu tƣ nƣớc ngoài đều phải tiến hành bảo hiểm tài sản và trách nhiệm dân sự tại các công ty bảo hiểm đƣợc phép hoạt động ở Việt Nam.
Trƣớc đó, chƣa có các chế tài bắt buộc nên có rất ít các dự án đầu tƣ nƣớc ngoài mua bảo hiểm ở Việt Nam. Các quy định này đã làm cho thị trƣờng bảo hiểm Việt Nam sôi động hơn. Thị trƣờng bảo hiểm Việt Nam đã thực sự đƣợc hình thành và có bƣớc phát triển nhanh chóng. Theo ƣớc tính, tốc độ tăng trƣởng bình quân của thị trƣờng này là 30-40%/năm.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 Năm 1996, lần đầu tiên Bộ Tài Chính cho phép Bảo Việt đƣợc bán các sản phẩm nhân thọ. Đây là một bƣớc lớn thể hiện nỗ lực của Chính phủ Việt Nam trong việc đa dạng hoá các sản phẩm trên thị trƣờng bảo hiểm, cũng nhƣ trong việc tối đa hoá tiềm năng của thị trƣờng này. Nếu nhƣ doanh thu phí bảo hiểm nhân thọ chỉ chiếm 10% tổng phí bảo hiểm trên cả thị trƣờng vào năm 1998, thì đến năm 2008, tỷ trọng đã là 48%. Trong giai đoạn tiếp theo, thị trƣờng bảo hiểm nhân thọ sẽ vẫn là nhân tố chủ đạo cho mục tiêu tăng trƣởng vƣợt bậc của thị trƣờng bảo hiểm Việt Nam.
Ngày 9/7/1999, Thủ tƣớng Chính phủ đã quyết định thành lập Hiệp hội bảo hiểm Việt Nam. Mục đích của Hiệp hội là “đại diện và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của hội viên, liên kết, hỗ trợ, hợp tác, thúc đẩy lẫn nhau cùng phát triển lành mạnh trong thị trƣởng bảo hiểm Việt Nam trong khuôn khổ pháp luật Việt Nam”. Tuy nhiên sau khi chính thức đi vào hoạt động, vai trò của Hiệp hội mới chỉ dừng lại ở mức độ hạn chế. Tình trạng không tôn trọng cam kết trong Hiệp hội vẫn thƣờng xuyên xảy ra, điều này làm cho liên kết giữa các doanh nghiệp trong Hiệp hội càng trở nên yếu ớt.[13] Tháng 12 năm 2000, Quốc hội đã phê chuẩn Luật Kinh doanh bảo hiểm và bắt đầu có hiệu lực thi hành từ ngày 1/4/2001.
Vậy là sau 40 năm ra đời và hoạt động, ngành bảo hiểm Việt Nam đã có văn bản pháp lý cao nhất của riêng mình và đây cũng chính là việc tạo điều kiện cho ngành bảo hiểm Việt Nam nhanh chóng hoà nhập với thị trƣờng bảo hiểm khu vực và thế giới. Nhƣ vậy, với một chặng đƣờng phát triển tƣơng đối ngắn, thời gian hoạt động theo cơ chế thị trƣờng chƣa dài nhƣng thị trƣờng bảo hiểm Việt Nam đã có bƣớc phát triển về chất và lƣợng, với một hệ thống khung pháp lý khá hoàn thiện, tốc độ tăng trƣởng mạnh mẽ của thị trƣờng sản phẩm cả về số lƣợng sản phẩm và doanh thu phí, có thể nói thị trƣờng bảo hiểm Việt Nam đã LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 có những bƣớc phát triển đáng ngạc nhiên, bƣớc vào giai đoạn phát triển mới – hội nhập kinh tế quốc tế.2 Môi trƣờng pháp lý cho hoạt động kinh doanh bảo hiểm Phát triển thị trƣờng dịch vụ tài chính nói chung và thị trƣờng bảo hiểm nói riêng luôn là một trong những ƣu tiên hàng đầu của Chính phủ Việt Nam. Để có đƣợc một thị trƣờng bảo hiểm phát triển lành mạnh, việc hình thành khung pháp lý điều tiết thị trƣờng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Trong những năm qua, Chính phủ luôn quan tâm và khuyến khích phát triển thị trƣờng bảo hiểm, thể hiện qua việc tạo ra một hành lang pháp lý dần đƣợc hoàn thiện để tạo điều kiện tốt hơn, giúp các doanh nghiệp bảo hiểm tiến hành hoạt động kinh doanh và phát triển.
Sau một thời gian dài không phân định rõ chức năng quản lý Nhà nƣớc và kinh doanh bảo hiểm trên thị trƣờng, việc Chính phủ ban hành Nghị định 100/CP ngày 18/12/1993 về kinh doanh bảo hiểm tại Việt Nam có thể nói đã thiết lập đƣợc khung pháp lý cơ bản đầu tiên để điều tiết quá trình vận hành thị trƣờng bảo hiểm Việt Nam. Tuy nhiên, khung pháp lý điều chỉnh thị trƣờng này chỉ thực sự phát triển với việc lần đầu tiên Luật Kinh doanh bảo hiểm đƣợc Quốc hội chính thức thông qua vào ngày 9/12/2000. Đặc biệt, Chính phủ còn xây dựng “Chiến lƣợc phát triển thị trƣờng bảo hiểm Việt Nam từ năm 2003 đến năm 2010” thể hiện qua Quyết định số 175/2003/QĐ- TTg ngày 29/8/2003. Điều này có ý nghĩa hết sức to lớn đối với sự phát triển của toàn ngành bảo hiểm trong những năm tiếp theo an toàn, hiệu quả và sẵn sàng hội nhập.
Để thực hiện chiến lƣợc này, hàng loạt văn bản, chế độ mới đã đƣợc khẩn trƣơng xây dựng và ban hành theo đúng kế hoạch đã đề ra. Cùng với việc xây dựng cơ chế chính sách mới, việc tiếp tục hoàn thiện những văn bản đã ban hành nhằm cải thiện môi trƣờng kinh doanh, tăng cƣờng công tác quản lý nhà nƣớc đối với hoạt động kinh doanh bảo hiểm theo các nguyên tắc LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 và chuẩn mực quốc tế cũng đƣợc quan tâm, thể hiện qua việc ban hành các văn bản sau: - Nghị định 45/2007/NĐ-CP, Nghị định 46/2007/NĐ-CP ngày 27/3/2007 (thay thế Nghị định số 42/2001/NĐ-CP, Nghị định số 43/2001/NĐ-CP). - Thông tƣ 155/2007/TT-BTC, Thông tƣ 156/2007/TT-BTC ngày 20/12/2007 (thay thế Thông tƣ 98/2004/TT-BTC, Thông tƣ 99/2004/TT-BTC ngày 19/10/2004). - Quyết định 96/2007/QĐ-BTC của Bộ Tài chính ngày 23/11/2007 Ban hành Quy chế triển khai sản phẩm bảo hiểm liên kết đơn vị.
- Quyết định 23/2007/QĐ-BTC của Bộ Tài chính ngày 9/4/2007 Ban hành Quy tắc biểu phí BHBB TNDS chủ xe cơ giới. - Quyết định 28/2007/QĐ-BTC ngày 24/4/2007 ban hành Quy tắc biểu phí bảo hiểm cháy nổ bắt buộc. - Nghị định 103/2008/NĐ-CP ngày 16/9/2008 về chế độ bảo hiểm bắt buộc TNDS chủ xe cơ giới. - Nghị định 118/2003/NĐ-CP ngày 13/10/2003 về xử phạt hành chính trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm.