phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung Luận văn gồm 03 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về tạo động lực lao động trong doanh nghiệp Chƣơng 2: Thực trạng tạo động lực lao động tại Công ty TNHH Yamaha Motor Electronics Việt Nam Chƣơng 3: Giải pháp tăng cƣờng tạo động lực lao động tại Công ty TNHH Yamaha Motor Electronics Việt Nam 9 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TẠO ĐỘNG LỰC LAO ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP 1. Các khái niệm liên quan 1. Nhu cầu Theo Bùi Anh Tuấn và Phạm Thúy Hƣơng: “Nhu cầu đƣợc hiểu là sự không đầy đủ về vật chất hay tinh thần mà làm cho một số hệ quả (tức là hệ quả của việc thực hiện nhu cầu) trở nên hấp dẫn”.266] Chúng ta có thể chia nhu cầu con ngƣời dựa theo các tiêu chuẩn khác nhau. Căn cứ vào đối tƣợng có hai loại nhu cầu: Nhu cầu vật chất và nhu cầu tinh thần.
Nhu cầu vật chất là nhu cầu cơ bản bảo đảm sự tồn tại của con ngƣời: nhu cầu thức ăn thức uống, nhà cửa, quần áo… Nhu cầu tinh thần cũng vô cùng đa dạng: Nhu cầu học tập, chính trị, nhu cầu công bằng xã hội… Việc tìm hiểu đúng nhu cầu của ngƣời lao động từ đó tạo ra các công cụ phù hợp làm thỏa mãn NLĐ là một việc mà các nhà quản trị, các doanh nghiệp cần phải quan tâm. Hiểu đƣợc nhu cầu của ngƣời lao động là nhân tố quan trọng giúp cho các chính sách của doanh nghiệp gắn kết chặt chẽ hơn với mong muốn, tâm tƣ của ngƣời lao động. Khi đạt đƣợc điều này mức độ hài lòng của ngƣời lao động về công việc và doanh nghiệp của mình sẽ tăng lên vì vậy sẽ cống hiến nhiều hơn. Thực tế hoạt động của các doanh nghiệp thành công cho thấy họ rất chú ý đến yếu tố này và coi đó là một chiến lƣợc quan trong để giữ chân NLĐ.
Động lực “Động lực là ý chí hành động và thực hiện để đạt đƣợc kết quả mong muốn (Kapur và Puma, 1996). Động lực là mức độ để mà một cá nhân muốn 10 và chọn để tham gia vào các hành vi cụ thể nhất định (Mitchell, 1982). Theo Adair (1996), động lực là điều gì đó ở mỗi cá nhân thúc đẩy họ tiến về phía trƣớc và hƣớng họ hành động theo một cách nhất định.31] Lê Thanh Hà cho rằng: “Động lực của ngƣời lao động là những nhân tố bên trong kích thích con ngƣời nỗ lực làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất, hiệu quả cao. Biểu hiện của động lực là sự sẵn sàng nỗ lực, say mê làm việc nhằm đạt đƣợc mục tiêu của tổ chức cũng nhƣ của bản thân ngƣời lao động”.151] Nhƣ vậy, có thể hiểu động lực là những nhân tố trong mỗi con ngƣời tạo ra lý do hành động cho con ngƣời và thúc đẩy con ngƣời hành động một cách tích cực, có năng suất, chất lƣợng, hiệu quả; có khả năng thích nghi và sáng tạo cao nhất trong tiềm năng của họ.
Động lực lao động Động lực lao động rất quan trọng trong mỗi doanh nghiệp. Năng suất của doanh nghiệp giảm khi ngƣời lao động không có động lực để thực hiện các mục tiêu đề ra. Động lực lao động chính là chiếc chìa khóa lên dây cót tinh thần để con ngƣời tìm thấy sự yêu thích, hào hứng với công việc mà họ đang làm. Từ sự thích thú đó, con ngƣời sẽ cảm thấy mong muốn đƣợc cống hiến và nỗ lực hoàn thành tốt công việc của mình.
Theo Bùi Anh Tuấn và Phạm Thúy Hƣơng “Động lực lao động là những nhân tố bên trong kích thích con ngƣời nỗ lực làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất, hiệu quả cao. Biểu hiện của động lực là sẵn sàng, nỗ lực, say mê làm việc nhằm đạt đƣợc mục tiêu của tổ chức cũng nhƣ bản thân ngƣời lao động”.85] Theo Nguyễn Thị Hồng “Động lực lao động là sự nỗ lực một cách tự nguyện của ngƣời lao động để tăng cƣờng các hoạt động lao động hƣớng tới 11 việc đạt đƣợc mục tiêu của mình thông qua việc đạt đƣợc các mục tiêu của tổ chức.13] Từ đó có thể rút ra cách hiểu chung nhất về động lực lao động: động lực lao động là sự khao khát và tự nguyện của mỗi cá nhân nhằm phát huy mọi nỗ lực để hƣớng bản thân đạt đƣợc mục tiêu của cá nhân và mục tiêu của tổ chức. Tạo động lực lao động Theo Lƣơng Văn Úc: “Tạo động lực lao động đƣợc định nghĩalà tổng hợp các biện pháp, phƣơng pháp và cách ứng xử của tổ chức (đƣợc xây dựng và thực hiện một cách có hệ thống nhƣng cũng linh động) bởi các nhà quản lý nhằm tạo ra sự khao khát, tự nguyện của ngƣời lao động cố gắng phấn đấu để đạt mục tiêu của tổ chức.145] Lê Thanh Hà cho rằng: “Tạo động lực lao động là tổng hợp các biện pháp và cách ứng xử của tổ chức, của các nhà quản lý nhằm tạo ra sự khao khát và tự nguyện của ngƣời lao động cố gắng phấn đấu để đạt đƣợc các mục tiêu của tổ chức.145] Tạo động lực lao động là vấn đề thuộc lĩnh vực quản trị của mỗi doanh nghiệp. Các nhà quản trị muốn xây dựng doanh nghiệp mình vững mạnh thì phải dùng các biện pháp kích thích ngƣời lao động hăng say làm việc, phát huy tính sáng tạo trong quá trình làm việc.
Tạo động lực cho ngƣời lao động sẽ khiến ngƣời lao động có động lực lao động, họ sẽ dồn hết khả năng để thực hiện công việc đƣợc giao, đạt mục tiêu của doanh nghiệp, đáp ứng làm thỏa mãn nhu cầu, gia tăng sự thỏa mãn công việc của ngƣời lao động và độ gắn kết của ngƣời lao động với doanh nghiệp. Từ các khái niệm trên có thể hiểu rằng tạo động lực lao động là tổng hợp các biện pháp và cách hành xử của tổ chức, các nhà quản lý nhằm tạo ra sự khát khao cống hiến, sự tự nguyện của ngƣời lao động, buộc họ phải nỗ 12 lực, cố gắng phấn đấu để đạt đƣợc các mục tiêu mà tổ chức đề ra. Một số học thuyết liên quan đến động lực lao động 1. Học thuyết nhu cầu của Abarham Maslow Nhu cầu tự hoàn thiện Nhu cầu đƣợc tôn trọng Nhu cầu xã hội Nhu cầu an toàn Nhu cầu sinh lý Hình 1.1: Tháp nhu cầu của Abraham Maslow Nguồn: Giáo trình Quản trị nhân lực tập II (2009) Maslow cho rằng con ngƣời có 5 nhu cầu cơ bản, đƣợc sắp xếp theo thứ bậc nhƣ trong hình.
Maslow đã khẳng định: Mỗi cá nhân ngƣời lao động có hệ thống nhu cầu khác nhau và nó đƣợc thỏa mãn bằng những cách, những phƣơng tiện khác nhau. Về nguyên tắc, con ngƣời cần đƣợc thõa mãn các nhu cầu ở bậc thấp hơn trƣớc khi đƣợc khuyến khích để thõa mãn những nhu cầu ở bậc cao hơn. Mặc dù không có một nhu cầu nào có thể thỏa mãn hoàn toàn nhƣng một nhu cầu đƣợc thỏa mãn về cơ bản thì không còn tạo ra động lực. Vì thế nhà quản trị sẽ tạo ra động cơ thúc đẩy ngƣời lao động làm việc tốt hơn, giúp họ yên tâm với công việc hơn bằng cách thoả mãn những nhu cầu hiện tại của họ.
Nhƣng điều quan trọng đối với nhà quản trị là phải tìm hiểu xem nhân viên của mình đang ở cấp nhu cầu nào, từ đó mới có biện pháp để thõa mãn nhu cầu đó của họ một cách hợp lý để chính sách tạo động lực mới đạt đƣợc kết quả cao nhất. Học thuyết công bằng của Stacy Adams Học thuyết công bằng phát biểu rằng ngƣời lao động so sánh những gì 13 họ bỏ vào một công việc (đầu vào) với những gì họ nhận đƣợc từ công việc đó (đầu ra) và sau đó đối chiếu tỷ suất đầu vào- đầu ra của họ với tỷ suất đầu vào-đầu ra của những ngƣời khác. Nếu tỷ suất của họ là ngang bằng với tỷ suất của những ngƣời khác, thì ngƣời ta cho rằng đang tồn tại một tình trạng công bằng. Nếu nhƣ tỷ suất này là không ngang bằng, thì họ cho rằng đang tồn tại một tình trạng bất công.
Theo học thuyết thì mỗi cá nhân đều muốn có sự công bằng. Mỗi ngƣời lao động thƣờng có xu hƣớng so sánh sự đóng góp và các quyền lợi mà họ đƣợc hƣởng với sự đóng góp của những ngƣời khác và quyền lợi của họ. Các quyền lợi đƣợc hƣởng nhƣ: đƣợc khen thƣởng, hƣởng các chế độ phúc lợi, làm việc trong điều kiện thuận lợi và có cơ hội thăng tiến… Sự đóng góp thể hiện ở mặt số lƣợng và chất lƣợng của công việc mà ngƣời lao động hoàn thành, sự nỗ lực của bản thân, trách nhiệm và sáng kiến… Khi các nhân viên nhận thức đƣợc một sự bất công, họ sẽ có những hành động để hiệu chỉnh tình hình này. Kết quả có thể là năng suất cao hơn hoặc thấp hơn, chất lƣợng tốt hơn hay giảm đi, mức độ vắng mặt tăng lên, hoặc thôi việc tự nguyện.
Nhƣ vậy, để tạo động lực cho ngƣời lao động nhà quản lý phải tạo ra và duy trì sự công bằng giữa sự đóng góp và các quyền lợi của từng cá nhân trong doanh nghiệp. Học thuyết kỳ vọng của Victor Vroom Học thuyết này đƣợc xây dựng dựa trên một số yếu tố tạo động lực trong lao động nhƣ: tính hấp dẫn của công việc, mối liên hệ giữa kết quả và phần thƣởng, mối liên hệ giữa sự nỗ lực quyết tâm với kết quả lao động của họ. Vroom đã đặt mối quan hệ giữa các yếu tố tạo động lực cho ngƣời lao động trong một tƣơng quan so sánh với nhau, vì vậy để vận dụng lý thuyết này vào trong quá trình quản lý đòi hỏi nhà quản trị phải có trình độ nhất định. 14 Khi con ngƣời nỗ lực làm việc họ sẽ mong đợi một kết quả tốt đẹp cùng với một phần thƣởng xứng đáng.
Nếu phần thƣởng phù hợp với nguyện vọng thì nó sẽ tác động tạo ra động lực lớn hơn trong quá trình làm việc tiếp theo. Kỳ vọng của ngƣời lao động có tác dụng tạo động lực rất lớn cho ngƣời lao động, nhƣng để tạo đƣợc kỳ vọng cho ngƣời lao động thì phải có phƣơng tiện và điền kiện để thực hiện nó. Những phƣơng tiện này chính là các chính sách, cơ chế quản lý, điều kiện làm việc… mà doanh nghiệp đảm bảo cho ngƣời lao động. Đặc biệt doanh nghiệp khi thiết kế công việc cho ngƣời lao động phải thiết kế đủ cao để họ phát huy đƣợc tiềm năng của mình nhƣng cũng phải đủ thấp để họ nhìn thấy kết quả mà họ có thể đạt đƣợc.