CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TẠO ĐỘNG LỰC LAO ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Động lực Các nhà kinh tế đã chỉ ra rằng hiệu quả làm việc của người lao động phụ thuộc vào nhiều yếu tố như năng lực của người lao động, phương tiện, các nguồn lực để thực hiện công việc và động lực lao động. Trong sản xuất kinh doanh, muốn đạt được hiệu quả cao, năng suất lao động cao thì bất kỳ tổ chức nào cũng cần phải có đội ngũ lao động mạnh.
Ngoài trình độ chuyên môn, đạo đức ra thì động lực làm việc là một trong những yếu tố quyết định đến năng suất và hiệu quả làm việc của người lao động. Để tạo cho người lao động tinh thần làm việc vui vẻ, tích cực và có tính sáng tạo cao trong công việc thì cần phải có biện pháp tạo động lực hiệu quả. Có nhiều khái niệm về động lực lao động như: “Động lực lao động chính là sự khao khát tự nguyện của người lao động để tăng cường nỗ lực nhằm đạt được các mục tiêu của tổ chức. Theo Kreitner (1995), động lực là một quá trình tâm lý mà nó định hướng các hành vi cá nhân theo mục đích nhất định.
Từ những định nghĩa trên có thể đưa ra cách hiểu chung nhất về động lực như sau : “ Động lực là tất cả những gì nhằm thôi thức, khuyến khích con người nỗ lực thực hiện những hành vi theo mục tiêu”. Biểu hiện của động lực là sẵn sàng, nỗ lực say mê làm việc nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức cũng như của bản thân người lao động. Tạo động lực lao động Một số khái niệm về tạo động lực lao động như sau: 8 “Tạo động lực lao động là hệ thống các biện pháp, chính sách, cách ứng xử của tổ chức tác động đến người lao động nhằm làm cho người lao động có động lực lao động trong công việc, thúc đẩy họ hài lòng hơn với công việc và nỗ lực phấn đầu để đạt được các mục tiêu của bản thân và tổ chức”.TS Bùi Anh Tuấn trường đại học Kinh tế quốc dân: “Tạo động lực lao động được hiểu là hệ thống các chính sách, biện pháp, thủ thuật quản lý tác động đến người lao động nhằm làm cho người lao động có động lực trong làm việc” [5, tr. Vậy thực chất của tạo động lực lao động chính là việc xác định các nhu cầu của người lao động, thỏa mãn các nhu cầu hợp lý của người lao động làm tăng thêm lợi ích cho họ để họ có thể làm việc tích cực, tự giác, sáng tạo và hiệu quả nhất.
Tổ chức mong muốn người lao động cống hiến hết năng lực, trình độ của mình phục vụ cho sự phát triển của tổ chức. Ngược lại người lao động cũng mong muốn những cống hiến đó sẽ đem lại những lợi ích về mặt tinh thần và vật chất giúp họ tìm được niềm vui trong lao động. Để có thể tạo được động lực cho người lao động thì nhà quản trị cần tìm hiểu xem người lao động làm việc với mục tiêu là gì từ đó thúc đẩy động cơ lao động và tạo động lực cho họ. Người lao động thường có những mục tiêu như mục tiêu thu nhập, mục tiêu phát triển cá nhân, mục tiêu thỏa mãn các hoạt động xã hội… Mục đích của tạo động lực chính là làm tăng năng suất lao động, tăng khả năng làm việc, chất lượng công việc và tạo nên sự hứng thú sáng tạo và lao động của người lao động.
Các học thuyết tạo động lực lao động cơ bản Hiện nay có rất nhiều những học thuyết về tạo động lực cho người lao động. Mỗi học thuyết lại đi sâu vào từng khía cạnh, khai thác các mặt khác nhau của các yếu tố tác động. Nhà quản lý cần phải linh hoạt trong việc vận 9 dụng những học thuyết này sao cho phù hợp với tổ chức của mình nhằm thực hiện hiệu quả nhất các chính sách quản lý nguồn nhân lực. Sau đây là bốn học thuyết tạo động lực được sử dụng rộng rãi và thường được các nhà quản lý tìm hiểu và sử dụng cho doanh nghiệp.
Học thuyết nhu cầu của Maslow Năm 1943 Abraham Maslow đã phát triển một trong các lý thuyết mà tầm ảnh hưởng của nó được thừa nhận rộng rãi và sử dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau. Đó là Lý thuyết về Thang bậc nhu cầu của con người. Ông chia hệ thống nhu cầu thành 5 nhóm khác nhau theo thứ tự từ nhu cầu bậc thấp đến nhu cầu bậc cao như sau: 1. Nhu cầu sinh lý: là các nhu cầu cơ bản nhất của con người để tồn tại như không khí, nước, lương thực…Như vậy, dựa trên nghiên cứu về nhu cầu bậc 1 của con người nhà quản lý cần quan tâm để trả công lao động tối thiểu cần đủ đáp ứng những nhu cầu này giúp người lao động đảm bảo cuộc sống cho người lao họ và gia đình.
Nhu cầu an toàn: nhu cầu an toàn là nhu cầu được ổn định và được bảo vệ. Trong hoạt động lao động, người lao động muốn có công việc ổn định, môi trường an toàn, đảm bảo về y tế sức khỏe…như vậy họ mới yên tâm lao động, đóng góp công sức cho tổ chức, doanh nghiệp. Nhu cầu xã hội là một trong những nhu cầu bậc cao của con người. Nhu cầu xã hội bao gồm nhu cầu giao tiếp, được thể hiện và chấp nhận tình cảm, nhu cầu được chia sẻ sự yêu thương… Để đáp ứng nhu cầu này, tổ chức cần tạo điều kiện cho người lao động làm việc theo nhóm, sinh hoạt tập thể ngoài giờ làm việc, các buổi tham quan, du lịch, ngoại khóa… 4.
Nhu cầu được tôn trọng: Con người muốn mọi người kính trọng, thừa nhận vị trí của mình trong xã hội. Tổ chức có thể đáp ứng nhu cầu này 10 bằng sự khen thưởng, ghi nhận thành tích, vinh danh người lao động, thăng chức, đề bạt… 5. Nhu cầu tự hoàn thiện là cấp độ cao nhất: là nhu cầu được phát triển, tự khẳng định mình. Họ mong muốn được biến năng lực của mình thành hiện thực, mong muốn làm các công việc có tính thách thức, đòi hỏi bản thân phải nỗ lực để đạt được mục tiêu, được chủ động trong công việc.
Tổ chức cần tạo cơ hội cho người lao động phát triển, thăng tiến, phân công cho họ các nhiệm vụ mang tính thách thức… Theo Maslow, khi mỗi nhu cầu trong số các nhu cầu trên được thoả mãn thì nhu cầu tiếp theo sẽ trở nên quan trọng. Sự thoả mãn nhu cầu đi theo thứ tự từ thấp đến cao. Mặc dù thực tế thì chẳng nhu cầu nào được thoả mãn hoàn toàn nhưng các nhu cầu khi đã được thoả mãn cơ bản thì không còn tạo ra động lực. Vì thế, muốn tạo động lực cho nhân viên thì trước hết nhà quản lý phải hiểu được nhân viên đó đang ở đâu trong hệ thống thứ bậc này và hướng sự thỏa mãn vào nhu cầu ở thứ bậc đó.
Như vậy, để tạo động lực cho người lao động nhà quản lý cần xác định nhu cầu của người lao động và đưa ra các biện pháp nhằm thoả mãn nhu cầu đó của họ để hoạt động tạo động lực đạt được kết quả cao nhất. Học thuyết công bằng của J.Stacy Adam Thuyết công bằng là một thuyết về sự động viên nhân viên do John Sta- cy Adams, một nhà tâm lý học hành vi và quản trị đưa ra vào năm 1963. Cũng như nhiều thuyết tạo động lực nổi tiếng khác, thuyết công bằng đưa ra những yếu tố ngầm và mang tính biến đổi tác động đến sự nhìn nhận và đánh giá của nhân viên về doanh nghiệp và các công việc của họ. Khi tạo được sự công bằng sẽ giúp thắt chặt, gắn kết mối quan hệ với người lao động, động viên và tăng mức độ hài lòng của người lao động.Adams, người lao động rất quan tâm đến vấn đề đối xử công bằng và đúng đắn trong tổ chức.
Cá nhân luôn tìm cách tối đa hóa thu nhập. Tổ chức thể hiện sự công bằng qua đánh giá lương thưởng, kết quả thực hiện công việc. Khi người lao động nhận thấy họ bị đối xử không công bằng, họ sẽ bắt đầu thất vọng. Sự không công bằng càng lớn thì họ càng cảm thấy thất vọng.
Những cá nhân nhận được sự đối xử không công bằng họ sẽ cố gắng thiết lập lại sự công bằng. Sự không công bằng và sự thất vọng càng lớn càng khiến người ta phấn đầu nhiều hơn trong việc thiết lập lại sự công bằng. Những điểm cơ bản có học thuyết này có thể áp dụng: Con người luôn mong đợi được hưởng những lợi ích như nhau khi có cống hiến như nhau, vì vậy các nhà quản lý nên tạo cơ hội cho người lao động cống hiến hết hình cho tổ chức. Nhà quản lý cần phải đưa ra những quy định rõ ràng trong khen thưởng và xử phạt để tránh mẫu thuẫn.
Sự công bằng về thu nhập cần được thực hiện thông qua việc xem xét thu nhập mức sống thực tế của người lao động để đưa ra mức lương hợp lý nhất. Thiết lập mối tương quan về thu nhập trong tổ chức nên chú ý đối với lao động thuộc nhóm quản lý cấp cao hoặc nhóm có thâm niên làm việc cao. Người lao động luôn có xu hướng so sánh sự đóng góp của họ và những quyền lợi họ đạt được với sự đóng góp và quyền lợi của người khác. Do vậy, để tạo động lực cho người lao động thì trong mọi chính sách của tổ chức phải đảm bảo tính công bằng, chính sách đãi ngộ khen thưởng phải dựa trên năng lực và đóng góp của từng người hài hòa với lợi ích chung của tập thể.
Học thuyết đặt mục tiêu của Edwin Locke Vào cuối những năm 1960 Edwin Locke và đồng sự Gary P. Latham đã chỉ ra mối quan hệ “đường đi - mục đích”. Học thuyết này chỉ ra rằng: các mục tiêu cụ thể và nhiều thách thức sẽ dẫn đến sự thực hiện công việc tốt hơn. Do vậy, để tạo động lực lao động, tổ chức cần phải có mục tiêu cụ thể và mang tính thách thức, phải hướng người lao động đặt mục tiêu làm việc cụ thể.
Khi đặt mục tiêu cho người lao động phải đảm bảo rằng các mục tiêu là có thể đạt được: nếu người lao động cho rằng mục tiêu là có thể đạt được thì họ sẽ tích cực làm việc hơn để đóng góp vào việc thực hiện mục tiêu đó.