phần mở đầu và kết luận, luận văn đƣợc kết cấu thành 3 chƣơng, cụ thể nhƣ sau: CHƢƠNG 1. Cở sở lý luận về tạo động lực lao động thông qua thù lao tài chính của tổ chức CHƢƠNG 2. Thực trạng tạo động lực lao động thông qua thù lao tài chính tại Công ty TNHH Công nghệ Logivan Việt Nam CHƢƠNG 3. Một số giải pháp nâng cao tạo động lực lao động thông qua thù lao tài chính tại Công ty TNHH Công nghệ Logivan Việt Nam 8 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TẠO ĐỘNG LỰC LAO ĐỘNG THÔNG QUA CHÍNH SÁCH THÙ LAO TÀI CHÍNH CỦA TỔ CHỨC 1.
Một số khái niệm cơ bản 1. Nhu cầu, động cơ, động lực, lợi ích 1. Nhu cầu, lợi ích “Nhu cầu là trạng thái tâm lý mà con ngƣời cảm thấy thiếu thốn, không thỏa mãn về một cái gì đó và mong đƣợc đáp ứng nó”[3, tr. Nhu cầu gồm hai nhóm chính là: nhu cầu vật chất và nhu cầu tinh thần.
Song những nhu cầu này luôn biến đổi, vận động cùng với thời gian, có thể phát sinh thêm các nhu cầu mới. “Lợi ích là mức độ thỏa mãn các nhu cầu vật chất và tinh thần của con ngƣời trong những điều kiện cụ thể nhất định”[3, tr. Nhu cầu của con ngƣời ở trong khái niệm không nhất thiết là nhu cầu về vật chất mà tổ chức mang lại mà có thể là tinh thần, là hoài bão, là lý tƣởng, là mong muốn nâng cao kiến thức, kĩ năng. Động cơ, động lực “Động cơ là lý do khiến ai đó hoạt động gì hay làm gì thể hiện thái độ chủ quan”[4, tr.
Nói cách khác động cơ chính là cái thôi thúc con ngƣời thực hiện. Có rất nhiều loại nhu cầu khác nhau nhƣng chỉ có những nhu cầu nào thiết yếu nhất, bức bách nhất mới có tác dụng tạo thành động cơ để chuyển hóa thành hành động. Năm 1973, Maier & Lawler đã đƣa ra mô hình về kết quả thực hiện công việc của mỗi cá nhân nhƣ sau: Kết quả thực hiện công việc = khả năng + động lực 9 Nhƣ vậy để đạt đƣợc kết quả thực hiện công việc tốt cần phải quan tâm tới động lực và nâng cao khả năng của mỗi ngƣời. Muốn làm đƣợc điều đó ta cần phải biết: Động lực lao động là gì? Năm 1983, Stee & Porter lại khẳng định: “động lực làm việc là sự khát khao và tự nguyện của ngƣời lao động để tăng cƣờng nỗ lực nhằm hƣớng tới việc đạt mục tiêu của tổ chức; là sự thôi thúc, sự kiên định và bền bỉ trong quá trình làm việc” Theo giáo trình hành vi tổ chức của Bùi Anh Tuấn “Động lực lao động là những nhân tố bên trong kích thích con ngƣời tích cực làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất, hiệu quả cao.
Biểu hiện của động lực là sự sẵn sàng, nỗ lực, say mê làm việc nhằm đạt đƣợc mục tiêu của tổ chức cũng nhƣ bản thân ngƣời lao động”. Theo đó, ngƣời lao động luôn có trong mình nhu cầu của bản thân. Ngƣời lao động có xu hƣớng sẽ đƣa ra các hành vi để thỏa mãn nhu cầu đó cũng nhƣ có xu hƣớng nỗ lực thực hiện các hành vi nếu cảm thấy nhu cầu đó có thể đạt đƣợc. Vì vậy, các tổ chức cần tìm hiểu nhu cầu của ngƣời lao động sau đó định hƣớng, chỉnh sửa nếu nhu cầu đó không phù hợp với tổ chức.
Làm nhƣ vậy có thể gắn mục tiêu tổ chức với mục tiêu cá nhân, ngƣời lao động sẽ nỗ lực làm việc để đạt đƣợc mục tiêu cá nhân với mục tiêu tổ chức. => Nhƣ vậy, dù các khái niệm tiếp cận theo nhiều hƣớng khác nhau nhƣng vẫn thống nhất một quan điểm chung đó là: Động lực yếu tố bên trong kích thích sự khát khao tự nguyện của ngƣời lao động, khiến họ tự nỗ lực hành động hƣớng tới việc đạt đƣợc mục tiêu đã đề ra. Nhƣ vậy, động lực mang một số đặc điểm sau: - Động lực lao động đƣợc thể hiện thông qua những hành độ cụ thể mà mỗi ngƣời thực hiện. 10 - Động lực lao động không hoàn toàn phụ thuộc vào những đặc điểm tính cách cá nhân, nó có thể thay đổi thƣờng xuyên phụ thuộc vào các yếu tố khách quan trong công việc.
Tại thời điểm này một lao động có thể có động lực làm việc rất cao nhƣng tại một thời điểm khác động lực lao động chƣa chắc đã còn trong họ. - Động lực mang tính tự nguyện và do bản thân mỗi ngƣời lao động tự quyết định. Động lực không thể có đƣợc thông qua ép buộc, cƣớng chế. - Động lực lao động đóng vai trò quan trọng trong sự tăng năng suất lao động khi các điều kiện đầu vào khác không đổi.
Động lực lao động nhƣ một sức mạnh vô hình từ bên trong con ngƣời thúc đẩy họ lao động hăng say hơn. Tạo động lực lao động “Tạo động lực lao động là tổng hợp các biện pháp và cách ứng xử của tổ chức, của nhà quản lý nhằm tạo ra sự khao khát và tự nguyện của ngƣời lao động cố gắng phấn đấu để đạt đƣợc các mục tiêu của tổ chức”[4, tr. 16] Hay “Tạo động lực đƣợc hiểu là hệ thống các chính sách, biện pháp thủ thuật quản lý tác động đến NLĐ nhằm làm cho ngƣời lao động có động lực trong công việc. 17] Nhƣ vậy, thực chất của tạo động lực chính là việc xác định các nhu cầu của ngƣời lao động, thỏa mãn các nhu cầu hợp lý của ngƣời lao động làm tăng thêm lợi ích cho họ để họ có thể làm việc tích cực, tự giác, sáng tạo và hiệu quả nhất.
Để có đƣợc động lực cho ngƣời lao động làm việc thì phải tìm cách tạo ra đƣợc động lực đó. Nhƣ vậy, tạo động lực trong lao động là hệ thống các chính sách, các biện pháp, các thủ thuật quản lý tác động đến ngƣời lao động nhằm làm cho ngƣời lao động có động lực để làm việc. Thù lao và thù lao tài chính 1. Thù lao Theo nghĩa hẹp, thù lao lao động bao gồm ba thành phần cơ bản là thù lao cơ bản, các khuyến khích tài chính và các khoản phúc lợi.
11 - Thù lao cơ bản là phần thù lao cố định mà ngƣời lao động nhận đƣợc theo định kỳ dƣới dạng tiền lƣơng (theo tuần, tháng), hoặc là tiền công theo giờ, theo vụ việc. - Các khuyến khích tài chính là những khoản tiền ngoài lƣơng mà ngƣời lao động nhận đƣợc từ các chƣơng trình khuyến khích nâng cao năng suất, chất lƣợng lao động nhƣ tiền thƣởng, tiền chia cho ngƣời lao động từ lợi nhuận v. Là các khoản thƣởng do kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh, do chất lƣợng làm việc. - Các khoản phúc lợi là phần thù lao gián tiếp ngƣời lao động nhận đƣợc dƣới dạng hỗ trợ cuộc sống nhƣ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế; lƣơng hƣu.
Theo nghĩa rộng, thù lao lao động gồm các khoản thù lao tài chính và phi tài chính. - Các khoản thù lao tài chính bao gồm các khoản thù lao cơ bản, các khuyến khích tài chính, các khoản phúc lợi nhƣ đã đề cập trên. - Thù lao phi tài chính đƣợc hiểu là những lợi ích mà ngƣời lao động nhận đƣợc từ nội dung công việc và môi trƣờng làm việc. Xét từ góc độ nội dung làm việc, những lợi ích phi tài chính tập trung chủ yếu vào việc đảm bảo sự phát triển nghề nghiệp của ngƣời lao động, những yếu tố đảm bảo vấn đề tâm lý của ngƣời lao động trong quá trình làm việc nhƣ mức độ hấp dẫn của công việc, tính ổn định của công việc, cơ hội khẳng định mình.
VD: l công chức Nhà nƣớc luôn có đƣợc một công việc ổn định, đồng lƣơng ổn định rất khó để chấm dứt hợp đồng với họ. Ngƣợc lại, một ngƣời lao động làm việc ở cty liên doanh luôn có nguy cơ bị chấm dứt hợp đồng sớm hoặc bị cắt giảm thu nhập -> thù lao phi tai chính ở các các cơ quan hành chính sự nghiệp ở góc độ này phần nào đấy cao hơn các doanh nghiệp. Xét từ góc độ môi trường làm việc, những lợi ích phi tài chính chủ yếu đi sâu vào việc đảm bảo các yếu tố tinh thần và sức khoẻ cho ngƣời lao động 12 1. Thù lao tài chính Nhƣ đã nói, thù lao tài chính bao gồm các khoản thù lao cơ bản, các khuyến khích tài chính, các khoản phúc lợi.
Cách hiểu này tƣơng đồng với bản chất của thù lao theo nghĩa hẹp. Thù lao tài chính là hình thức đãi ngộ thực hiện bằng các công cụ tài chính nhƣ tiền lƣơng, tiền thƣởng, cổ phần, phụ cấp, phúc lợi,. Thù lao tài chính là khoản tiền mà doanh nghiệp trả cho ngƣời lao động do họ đã thực hiện những công việc mà doanh nghiệp giao. Đó là khoản tiền trả cho số lƣợng, chất lƣợng lao động, cho những đóng góp trên mức bình thƣờng của ngƣời lao động.
Điều này ngƣợc lại với thù lao phi tài chính, thù lao phi tài chính thực chất là chăm lo đời sống tinh thần của ngƣời lao động thông qua các công cụ không phải là tiền bạc. Thù lao tài chính là một trong những công cụ thể hiện rõ ràng nhất lợi ích kinh tế của ngƣời lao động, do đó nó có tác dụng kích thích vật chất cơ bản đối với bất cứ ngƣời lao động nào. Nhƣ Amstrong nhận xét: “Tiền cung cấp củ cà rốt mà hầu hết mọi ngƣời đều mong muốn. Đối với ngƣời lao động thì tiền lƣơng là khoản thu nhập chính trong hệ thống thù lao mà họ nhận đƣợc.
Khoản tiền lƣơng này sẽ giúp ngƣời lao động tái sản xuất sức lao động của mình, nó ảnh hƣởng trực tiếp đến cuộc sống không chỉ của bản thân họ mà còn đƣợc dùng để giúp duy trì nhu cầu cuộc sống hàng ngày của gia đình. Nếu tiền lƣơng xứng đáng với sức lao động của ngƣời lao động sẽ là nguồn động lực lớn nhất giúp họ nâng cao hiện quả làm việc của mình. Cùng với tiền lƣơng, tiền thƣởng đƣợc xác định là khoản tiền bổ sung thêm nhằm khuyến khích ngƣời lao động mà tiền lƣơng không làm đƣợc. Tiền thƣởng là một dạng khuyến khích tài chính, một khoản tiền thƣởng thêm cho ngƣời lao động khi họ hoàn thành vƣợt mức kế hoạch.
Hoặc tiền thƣởng cũng có thể là khoản bổ sung thêm cho ngƣời lao động khi tổ chức chia các quỹ, 13 khi tổ chức làm ăn đạt lợi nhuận cao. Thông thƣờng tiền thƣởng đƣợc thực hiện vào cuối mỗi quý hoặc mỗi năm tài chính.