CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TẠO ĐỘNG LỰC LAO ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP 1. Một số khái niệm liên quan đến động lực lao động và tạo động lực lao động trong doanh nghiệp 1. Khái niệm động lực lao động Nhân lực trong tổ chức Nhân lực trong một tổ chức được coi là chìa khóa thành công hay thất bại của mỗi doanh nghiệp vì thế mà lựa chọn ra những nhân lực tốt, phù hợp với tổ chức luôn được những người đứng đầu doanh nghiệp quan tâm bên cạnh việc tìm kiếm bạn hàng, đổi mới sản phẩm theo kịp thị hiếu của khách hàng, tìm nhà cung cấp nguyên liệu với mức giá hợp lý, … Theo PGS, TS Lê Thanh Hà: “Nhân lực (hay còn được gọi là nguồn nhân lực) được hiểu là nguồn lực trong mỗi con người chúng ta, bao gồm thể lực và trí lực và được biểu hiện ra bên ngoài bởi khả năng làm việc của mỗi con người, nó cũng bao gồm cả sức khỏe (chiều cao, cân nặng, sức bền thể lực, …), trình độ (kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm), tâm lý, ý thức, mức độ cố gắng, … .” Từ đây có thể hiểu nguồn lực trong mỗi con người là không có giới hạn và nguồn lực này được phát huy hết sức khi đặt vào từng tình huống cụ thể với những con người cụ thể. Trong các nhân tố thể hiện nguồn lực con người thì sức sáng tạo được coi là nhân tố tiềm năng nhất, nó phần lớn phụ thuộc vào trình độ của mỗi người nhưng đồng thời cùng phụ thuộc vào môi trường.
Một người có trình độ cao nhưng không được đặt trong môi trường và điều kiện thuận lợi để lóe lên ý tưởng thì sức sáng tạo của người đó cũng sẽ bị hạn chế. Vậy nhân lực là nguồn lực trong mỗi con người bao gồm nguồn lực hiện hữu và nguồn lực tiềm năng. Có thể nói Nhân lực/nguồn nhân lực của tổ chức là nguồn lực của toàn bộ cán bộ, công nhân viên lao động trong tổ chức 10 đó được đặt trong mối quan hệ là làm thế nào kết hợp được từng nguồn lực riêng của mỗi cá nhân, sự bổ trợ những khác biệt trong nguồn lực của mỗi cá nhân thành nguồn lực của tổ chức. Sức mạnh của tập thể lao động vận dụng vào việc đạt được những mục tiêu chung của tổ chức trên cơ sở đó đạt được những mục tiêu riêng của mỗi thành viên.
Nhu cầu Nhu cầu được hiểu là cảm giác thiếu hụt một cái gì đó mà con người có thể cảm nhận được, là hiện tượng tâm lý, đòi hỏi, mong muốn, nguyện vọng của con người để tồn tại và phát triển. Với mỗi cá nhân, theo mức độ giáo dục, môi trường sống, đặc điểm tâm sinh lý mà có những nhu cầu khác nhau. Nhu cầu là yếu tố thúc đẩy con người hoạt động. Nhu cầu càng cấp bách thì khả năng chi phối con người càng cao.
Do đó, kiểm soát được nhu cầu đồng nghĩa với việc có thể kiểm soát được cá nhân. Nhu cầu của một cá nhân, đa dạng và vô tận. Về mặt quản lý, người quản lý chỉ kiểm soát những nhu cầu có liên quan đến hiệu quả làm việc của cá nhân. Việc thoả mãn nhu cầu nào đó của cá nhân đồng thời tạo ra một nhu cầu khác theo định hướng của nhà quản lý, vì thế người quản lý luôn có thể điều khiển được các cá nhân.
Nhu cầu là tính chất của cơ thể sống, biểu hiện trạng thái thiếu hụt hay mất cân bằng của chính cá thể đó và do đó phân biệt nó với môi trường sống. Nhu cầu tối thiểu hay còn gọi là nhu yếu đã được lập trình qua quá trình rất lâu dài tồn tại, phát triển và tiến hóa. Lợi ích Tự bản thân mỗi một con người có nhu cầu khá đa dạng, khi còn nghèo họ, với họ thì ăn, mặc, ở, đi lại là điều quan trọng nhất, cùng với thời gian khi tích lũy được một lượng kinh nghiệm vừa đủ, tiền lương được tăng lên thì lúc này vấn đề ăn, mặc ở lại không phải là điều quan trọng nhất, cái mà họ quan tâm đến là cơ hội phát triển bản thân, tự khẳng định mình, mong muốn nhận được sự tôn trọng từ đồng nghiệp, cấp trên, …Từ cách hiểu trên có thể kết 11 luận rằng nhu cầu của mỗi con người cụ thể hay người lao động nói chung là khá đa dạng. Tuy nhiên, có thể nhóm chúng lại thành 2 nhóm nhu cầu là nhu cầu vật chất và nhu cầu tinh thần.
Người lao động mong muốn là được thỏa mãn càng nhiều nhu cầu càng tốt (vì bản chất của mỗi con người là xuất phát từ lòng tham), song mong muốn là thế nhưng không thể lúc nào cũng được thỏa mãn bởi lẽ: Với nhu cầu vật chất, việc thỏa mãn được chúng phụ thuộc vào tiền lương, tiền công, tiền thưởng, … (hay còn được gọi là thu nhập) mà người lao động nhận được từ người sử dụng lao động, thu nhập càng cao thì mức độ thỏa mãn về mặt vật chất là càng lớn. Nhưng theo Philip thì doanh nghiệp cũng chỉ tăng lương đến mức độ nào đó, nếu liên tục tăng lương sẽ làm tăng chi phí của doanh nghiệp (giảm lợi nhuận) đồng thời khi tiền lương tăng cao thì người lao động có xu hướng giảm số giờ làm việc, tăng số thời gian hưởng thụ (du lịch, nghỉ dưỡng, xem phim, …), mong được tôn trọng hơn. Với nhu cầu tinh thần, việc thỏa mãn nhu cầu này khác nhau lại khác nhau giữa những nhà quản lý, tập thể người lao động. Xã hội ngày càng phát triển thì nhu cầu về các giá trị tinh thần cũng nâng cao, con người đòi hòi được đáp ứng những nhu cầu này để tồn tại, phát triển về mặt trí lực như nhu cầu học tập để nâng cao trình độ hiểu biết; Nhu cầu thẩm mỹ và giao tiếp xã hội; Nhu cầu công bằng xã hội.
Tóm lại, có thể hiểu Lợi ích chính là việc đáp ứng những nhu cầu vật chất và tinh thần do công việc tạo ra. Động cơ ThS Nguyễn Vân Điềm và PGS. TS Nguyễn Ngọc Quân: “Động cơ được hiểu là sự sẵn sàng, quyết tâm thực hiện với nỗ lực ở mức độ cao để đạt được các mục tiêu của tổ chức và nó phụ thuộc vào khả năng đạt được kết quả để thoả mãn được các nhu cầu cá nhân”. Động cơ là kết quả của sự tương tác giữa các cá nhân và tình huống, có tác dụng chi phối thúc đẩy người ta suy 12 nghĩ và hành động.
Các cá nhân khác nhau có động cơ khác nhau, mức độ thúc đẩy của động cơ cũng khác nhau trong các tình huống khác nhau và động cơ rất trừu tượng, khó xác định bởi. Động cơ thường được che dấu từ nhiều động cơ thực do yếu tố tâm lý, quan điểm xã hội. Hơn nữa động cơ luôn biến đổi (theo môi trường sống và theo thời gian), tại mỗi thời điểm con người có những yêu cầu và động cơ làm việc khác nhau. Khi đói khát thì động cơ làm việc để được ăn no mặc ấm, khi có ăn có mặc thì động cơ thúc đẩy làm việc để muốn giầu có và muốn thể hiện.Vậy để nắm bắt được động cơ thúc đẩy để người lao động làm việc phải xét đến từng thời điểm cụ thể môi trường cụ thể và đối với từng cá nhân người lao động.
Động lực Theo ThS Nguyễn Vân Điềm và PGS. TS Nguyễn Ngọc Quân: “Một cách tự nhiên thì động lực được hiểu là sự khát khao và tự nguyện của con người nhằm tăng cường sự nỗ lực để đạt được mục đích hay một kết quả cụ thể (Nói cách khác động lực bao gồm tất cả những lý do khiến con người hành động)” 1. Khái niệm tạo động lực lao động cho nhân lực. Khái niệm về tạo động lực Năng suất lao động cao trong một tổ chức sẽ có được thông qua sự làm việc tích cực, sáng tạo, hăng say của tập thể người lao động.
Tuy nhiên làm thế nào để có được điều này thì đòi hỏi mỗi người quản lý phải có phương pháp riêng để tạo động lực cho nhân viên cấp dưới của mình. Theo PGS, TS Lê Thanh Hà: “Tạo động lực lao động là tổng hợp các biện pháp và cách hành xử của tổ chức, nhà quản lý để tạo ra sự khát khao, tự nguyện của người lao động buộc họ phải nỗ lực, cố gắng phấn đấu nhằm đạt được các mục tiêu mà tổ chức đề ra. Các biện pháp được đặt ra có thể là các đòn bẩy kích thích về vật chất, tinh thần, cách hành xử của tổ chức được thể hiện ở điểm tổ chức đó đối xử lại với người lao động như thế nào” 13 Theo PGS.TS Bùi Anh Tuấn: “Tạo động lực lao động được hiểu là hệ thống các chính sách, biện pháp, thủ thuật quản lý tác động đến người lao động nhằm làm cho người lao động có động lực trong làm việc. Như đã đề cập ở đoạn đầu, mục đích chính của tạo động lực là tăng năng suất lao động, khả năng làm việc, chất lượng công việc, sự hứng thú sáng tạo trong lao động của người lao động.
Tổ chức muốn tăng năng suất và chất lượng công việc từ đó tạo ra nhiều giá trị gia tăng, người lao động muốn có công việc ổn định, gia tăng lợi ích và thỏa mãn các nhu cầu của bản thân. Do vậy, trong phạm vi bài luận văn này tác giả sử dụng khái niệm tạo động lực của PGS.TS Lê Thanh Hà - Trường Đại học Lao động-Xã hội làm thước đo đánh giá tạo động lực lao động của công ty cổ phần Hanel xốp nhựa, giúp tổ chức và người lao động thỏa mãn được yêu cầu của mỗi bên thông qua việc sử dụng những biện pháp kích thích người lao động, tạo cho người lao động có cơ hội để thực hiện mục tiêu của mình đồng thời làm tăng hiệu quả công việc và tinh thần lao động cũng hăng say hơn kết quả là thỏa mãn nhu cầu của tổ chức Vai trò của tạo động lực lao động Tạo động lực lao động có vai trò hết sức to lớn, quyết định sự tồn tại, phát triển của tổ chức bởi lẽ: Nhờ có tạo động lực, người lao động sẽ có những hành vi tích cực trong việc hoàn thiện mình thông qua công việc; Tạo động lực thúc đẩy hành vi của người lao động trên hai góc độ trái ngược nhau đó là tích cực và tiêu cực. Khi người lao động có động lực làm việc tích cực, họ sẽ hăng say làm việc, tạo ra nhiều giá trị thặng dư hơn cho doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp ổn định, phát triển bền vững và vươn lên hoặc ngược lại chính họ sẽ dẫn doanh nghiệp đến chỗ phá sản.