Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TẠO ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG NGÂN HÀNG 1. Cơ sở lý luận về tạo động lực làm việc cho người lao động trong ngân hàng 1. Các khái niệm và vai trò tạo động lực làm việc cho người lao động trong ngân hàng 1. Khái niệm tạo động lực làm việc cho người lao động trong ngân hàng Động lực lao động là một thuật ngữ được sử dụng rất nhiều.
Xét dưới góc độ kinh tế động lực lao động được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau: Theo giáo trình quản trị nhân lực thì: “Động lực lao động là sự khao khát và tự nguyện của người lao động để tăng cường nỗ lực nhằm hướng tới việc đạt các mục tiêu của tổ chức [14]. Theo giáo trình hành vi tổ chức thì: “Động lực của người lao động là những nhân tố bên trong kích thích con người nỗ lực làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất, hiệu quả cao. Biểu hiện của động lực lao động là sự sẵn sàng nỗ lực, say mê làm việc nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức, cũng như của bản thân người lao động [13]. Động lực lao động không phải là yếu tố bẩm sinh mà nó chịu tác động của nhiều yếu tố và nó thường xuyên biến đổi theo thời gian.Đối với mỗi người lao động có thể trong thời gian này thì họ có động lực lao động nhưng mà trong thời gian khác thì lại không có động lực lao động.Nó thường xuyên biến đổi.
Động lực lao động làm cho người lao động hăng say làm việc và có hiệu quả cao hơn,như vậy thì người lao động thông qua việc có động lực làm việc cao thì dẫn đến việc tăng cao năng suất lao động. Nhưng mà nó cũng không phải là yếu tố duy nhất dẫn đến tăng năng suất lao động nó chỉ là một phần của việc tăng năng suất lao động khi mà các yếu tố về điều kiện lao động không đổi. Nếu mà ta coi nó là yếu tố duy nhất thì thực sự là thấy nó download by : skknchat@gmail.com 6 thật sai lầm,vì ngoài ra còn có nhiều yếu tố khác như: trình độ năng lực,khả năng của người lao động,và các yếu tố khác nữa… Động lực lao động không hoàn toàn phụ thuộc vào những đặc điểm tính cách cá nhân nó có thể thay đổi thường xuyên phụ thuộc vào các yếu tố khách quan trong công việc. Tại thời điểm này một lao động có thể có động lực làm việc rất cao nhưng vào một thời điểm khác động lực lao động chưa chắc đã còn trong họ.
Trong thực tiễn, người lao động không có động lực làm việc thì vẫn có thể hoàn thành công việc; thế nhưng chúng ta không thấy rằng sự gắn bó, nhiệt huyết của họ với DN là không nhiều. Bản thân họ không thể mang hết tài năng và trí tuệ cống hiến tận tụy cho DN và không khi nào họ là những nhân viên trung thành, là tài nguyên quý giá của DN. Để có được động lực cho người lao động làm việc thì phải tìm cách tạo ra được động lực đó. Tạo động lực làm việc cho người lao động trong ngân hàng Mỗi người làm việc đều có những lý do khác nhau.
Người lao động trong ngân hàng đều làm việc bởi họ có thể có được những thứ mà họ cần từ công việc. Những thứ mà người lao động dành được từ công việc có ảnh hưởng tới tinh thần, nhuệ khí, động lực làm việc và chất lượng cuộc sống của họ. Điều mà Nhà quản lý cần làm là sử dụng các động lực để thúc đẩy người lao động trong ngân hàng thực hiện nhiệm vụ một cách có hiệu quả cho Ngân hàng nơi họ làm việc. Một tổ chức muốn làm việc có hiệu quả và thành công thì cần phải kích thích và thỏa mãn được sự nỗ lực của mọi người để đảm bảo cho việc thực hiện nhiệm vụ có hiệu quả.
Tạo động lực cho người lao động trong ngân hàng là việc dùng những biện pháp nhất định để kích thích người lao động làm việc một cách tự nguyện, nhiệt tình, hăng say và có hiệu quả hơn trong công việc. Tạo động lực cho người lao động trong ngân hàng là hướng người lao động tới mục tiêu, chính sách mà Ngân hàng đã đề ra và đạt được chúng với sự nỗ lực lớn nhất. download by : skknchat@gmail.com 7 Như vậy, suy cho cùng động lực cho người lao động nói chung hay cho người lao động trong Ngân hàng nói riêng là sự nỗ lực, cố gắng từ chính bản thân mỗi nhân viên mà ra. Như vậy mục tiêu của các nhà quản lý là phải làm sao tạo ra được động lực để nhân viên có thể làm việc đạt hiệu quả cao nhất phục vụ cho đơn vị, tổ chức.
Vai trò của việc tạo động lực làm việc. a) Đối với bản thân người lao động. Tạo động lực góp phần thỏa mãn các nhu cầu của người lao động, cả nhu cầu về vật chất và tinh thần. Khi có động lực làm việc, người lao động sẽ hăng say làm việc, cống hiến, từ đó nâng cao hiệu quả công việc cũng như năng suất lao động, khả năng tay nghề, chuyên môn của người lao động cũng được phát huy tối đa.
Bên cạnh đó còn kích thích được tính sáng tạo của người lao động, đồng thời tăng được sự gắn bó giữa cá nhân người lao động với công việc, giúp họ hoàn thiện được bản thân. Khi người lao động có động lực làm việc, tinh thần họ cũng thoải mái hơn, đây là yếu tố góp phần giảm thiểu bệnh nghề nghiệp. b) Đối với tổ chức Tạo động lực làm việc không chỉ có ích cho bản thân người lao động mà còn hữu dụng đối với tổ chức bởi: Thực hiện công việc tạo động lực cũng chính là hoạt động tổ chức tiến hành sử dụng hợp lý nguồn nhân lực, khai thác tối ưu những tiềm năng của người lao động phục vụ lợi ích chung của tổ chức. - Thực hiện các chính sách tạo động lực là tổ chức đang tiến hành công tác thu hút lao động có tay nghề, trình độ cao, nâng cao sự trung thành của người lao động với tổ chức.
- Khi tạo được động lực làm việc cho người lao động, họ sẽ có cảm hứng trong công việc, nhiệt tình hơn, trách nhiệm hơn, từ đó thực hiện công việc với kết quả cao nhất, nâng cao năng suất lao động. Điều này đồng nghĩa download by : skknchat@gmail.com 8 với tổ chức hoạt động hiệu quả hơn, thúc đẩy sự phát triển và thực hiện tốt các mục tiêu của tổ chức. Như vậy, những chính sách tạo động lực của tổ chức có ảnh hưởng rất lớn tới thành công của tổ chức, bởi những chính sách đó có tác động rất lớn tới hành vi của người lao động cũng như ý thức của họ về sự đối xử công bằng. Một số học thuyết về tạo động lực làm việc trong lao động 1.
Học thuyết hệ thống nhu cầu của Maslow Nhà tâm lý học người Hoa Kỳ - Abraham Maslow cho rằng: người lao động có năm nhu cầu theo bậc thang từ thấp đến cao là: nhu cầu sinh lý, nhu cầu an toàn, nhu cầu xã hội, nhu cầu được ghi nhận và nhu cầu tự hoàn thiện. - Nhu cầu sinh lý: Đó là những nhu cầu cơ bản và thiết yếu để tồn tại. Bao gồm những nhu cầu như ăn mặc, trú ngụ, đi lại. đây là những nhu cầu cơ bản nhất của con người và có vị trí thấp nhất trong hệ thống nhu cầu của Maslow.
Trước khi thỏa mãn những nhu cầu khác, con người có xu hướng thỏa mãn nhu cầu vật chất trước. - Nhu cầu an toàn: là những nhu cầu về sự an toàn thân thể, sự ổn định đời sống cũng như nhu cầu tránh khỏi sự đau đớn, sự đe dọa và bệnh tật. Biểu hiện nhu cầu an toàn của con người là mong ước có việc làm ổn định, không bị thất nghiệp, được hưởng các phúc lợi xã hội, có lương hưu khi hết sức lao động. Đây cũng là một trong các nhu cầu mà nhân viên quan tâm và mong muốn được đảm bảo ở mức độ cao, các nhà quản lý nhân sự cần chú trọng quan tâm tới nhu cầu này để tạo động lực cho nhân viên.
- Nhu cầu về xã hội: Đây là một nhu cầu mang tính rộng mở, nó bao gồm các mối quan hệ trong lao động, sản xuất của bản thân nhân viên với các mối quan hệ khác rộng mở hơn ngoài xã hội như: nhu cầu giao tiếp với người khác, sự tìm tòi học hỏi kinh nghiệm trong lao động trong phạm vi nội bộ và ngoài doanh nghiệp,… hay đây chính là nhu cầu mang tính chất đoàn kết, tập thể cao. download by : skknchat@gmail.com 9 - Nhu cầu được tôn trọng: là những nhu cầu về lòng tự trọng, sự thành đạt và sự công nhận của mọi người. Vì vậy, con người tận dụng mọi cơ hội để thành đạt, thăng chức, có uy tín và địa vị để khẳng định giá trị bản thân. Khi nhân viên của tổ chức được thúc đẩy bởi những nhu cầu này thì họ sẽ làm việc một cách tích cực và nâng cao không ngừng những kỹ năng cần thiết cho công việc với mục đích là thành công: phần thưởng, sự công nhận, sự ca ngợi, thăng tiến.
đây chính là niềm tự hào bản thân của người lao động. - Nhu cầu tự thể hiện: Maslow nghiên cứu về nhu cầu của con người từ mức độ thấp nhất và dần đi tới nhu cầu cao nhất mà mỗi người đều luôn mong muốn đó là nhu cầu tự thể hiện khả năng của bản thân mình. Đây là nhu cầu phát huy tối đa tiềm năng ở mỗi người để hướng tới một mục tiêu nào đó hay phát huy những thế mạnh bản thân, được đào tạo và phát triển, được tham gia vào quá trình cải tiến tổ chức. Trong công việc, nhu cầu ở mức độ này có khả năng động viên rất lớn nếu nhà quản lý biết khai thác triệt để và tạo ra những chính sách có lợi hơn cho nhân viên thì nó sẽ là động lực quan trọng tạo ra bước đột phá trong công việc cũng như sự thành công của doanh nghiệp.
Như vậy, nhờ việc nghiên cứu học thuyết 5 nhu cầu của Maslow sẽ giúp các nhà quản trị về con người tìm và hiểu được những nhu cầu tối thiểu nhất mà mỗi con người. Người lãnh đạo cần phải xem xét xem người lao động của mình đang ở mức nào để có thể đưa gia các chính sách khuyến khích hợp lý để có thể tác động đến người lao động làm việc.