CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TẠO ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP 1. CÁC HỌC THUYẾT TẠO ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Nhu cầu Nhu cầu là một hiện tượng tâm lý của con người, là đòi hỏi, mong muốn, nguyện vọng của con người về vật chất và tinh thần cần được đáp ứng và thõa mãn.
Nhu cầu là cảm giác thiếu hụt một cái gì đó mà con người cảm nhận được. Nhu cầu của con người có tính chất là không có giới hạn. Trọng tâm chú ý của các nhà khoa học là xếp đặt nhu cầu theo một cấu trúc thứ bậc. Ý tưởng về thứ bậc của nhu cầu bắt đầu nảy sinh từ đầu thế kỉ trước.
Ý tưởng này được triển khai qua nhiều nghiên cứu và được thể hiện rõ trong tháp nhu cầu của Maslow [6]. Năm cấp bậc nhu cầu theo phân loại của Maslow được xếp theo hình bậc thang hay hình chóp kim tự tháp với thứ tự liệt kê như trên thể hiện quan điểm rằng sự thỏa mãn nhu cầu theo thứ tự từ dưới lên. Người ta đã chỉ ra rằng thực tế sự thỏa mãn nhu cầu không nhất thiết phải tuân theo quy luật đó. Aristotle đã cho rằng nhu cầu cũng được chia ra làm 2 loại: Nhu cầu vật chất và nhu cầu tinh thần.
Trên thực tế, mặc dù hai nhân tố này là hai lĩnh vực hoàn toàn khác biệt song thực ra ra chúng có mối quan hệ khăng khít với nhau. Thỏa mãn nhu cầu Sự thỏa mãn nhu cầu là quá trình hoàn thành, đáp ứng sự thiếu hụt do nhu cầu sinh ra. Hình thức biểu hiện nhất định của nhu cầu được cụ thể hóa thành đối tượng nhất định. Đối tượng của nhu cầu chính là cái mà nhu cầu hướng đến làm thỏa mãn nhu cầu đó.
Một đối tượng có thể làm thỏa mãn một số nhu cầu, một nhu cầu có thể được thỏa mãn bởi một số đối tượng với mức độ thỏa mãn khác nhau. 10 Nhận thức của con người và xã hội càng cao thì phạm vi đối tượng có ý nghĩa càng rộng. Do đó, nhận thức của con người về xã hội càng cao, thì nhu cầu của con người càng tăng và càng cụ thể hơn. Mặt khác, khi nhận thức con người tăng lên thì mức độ thỏa mãn nhu cầu càng đa dạng.
Ngoài ra, Frederick Herzberg [10] còn đưa ra khái niệm về sự bất mãn. Sự bất mãn sinh ra khi các nhu cầu mà con người kỳ vọng được đáp ứng nhưng lại không được đáp ứng. Trong quản lý, sự bất mãn trong công việc được thể hiện rõ nhất khi các yếu tố trong môi trường làm việc không đáp ứng được nhu cầu mà người lao động kỳ vọng được đáp ứng khi so sánh với nhận thức chung của xã hội. Động cơ Động cơ chỉ sức mạnh nội tâm tác động lên một người hoặc sức mạnh nảy sinh thúc đẩy con người hướng tới mục tiêu nhất định.
Động cơ thúc đẩy con người hành động theo hướng cần thiết để đạt được mục tiêu đó. Động cơ bắt đầu bằng những nhu cầu không được thõa mãn và thúc đẩy hành vi nhằm thỏa mãn nhu cầu đó. Mô hình tương quan giữa nhu cầu và sự thỏa mãn được thể hiện trong hình sau. Khi con người có nhu cầu chưa được đáp ứng, các nhu cầu này sẽ chuyển thành áp lực thúc đẩy các hành vi cụ thể để thỏa mãn nhu cầu.
Ngoài ra, khi con người thòa mãn được nhu cầu, con người sẽ hướng tới các nhu cầu ở bậc cao hơn. Sự thỏa mãn Nhu cầu (Giảm áp lực (Cảm giác và thỏa mãn thiếu hụt) nhu cầu) Hành động (Hành vi Động cơ trực tiếp (Áp lực hay hướng tới cố gắng) mục đích) Hình 1.1 Quá trình tác động qua lại thỏa mãn nhu cầu 11 Động cơ phụ thuộc vào sự cấp thiết của nhu cầu và mức độ thỏa mãn khi đáp ứng nhu cầu. Tùy theo mỗi con người, một nhu cầu được đánh giá tầm quan trọng cao hay thấp. Khi đó, với các nhu cầu có tính quan trọng thiết yếu được con người đó đánh giá cao, động cơ sinh ra để thỏa mãn nhu cầu đó cũng cao hơn.
Ngoài ra, khi con người cố gắng trong mời thời gian dài mà không thỏa mãn được nhu cầu, con người có thể trì hoãn nhu cầu và gây ra mất hoặc giảm động cơ. Động lực làm việc Động lực làm việc là sự khao khát và tự nguyện của người lao động để tăng cường nỗ lực nhằm hướng đến việc đạt được các mục tiêu của tổ chức. Động cơ làm việc cá nhân là kết quả của rất nhiều nguồn lực hoạt động đồng thời trong con người và trong môi trường sống và làm việc của con người.TS Nguyễn Ngọc Quân và THS. Có thể nói, trong quản lý, các động cơ của người lao động nhằm đặt được lợi ích trực tiếp hoặc gián tiếp cho tổ chức, doanh nghiệp là động lực làm việc.
Động lực làm việc ảnh hưởng tới hiệu suất làm việc của người lao động. Động lực lao động rất đa dạng và thường biến đổi theo thời gian và chịu tác động của ngoại cảnh do nhu cầu của con người là khác nhau và luôn biến đổi. Trong quản lý, nhằm đạt được các mục tiêu chung của tổ chức, các nhà quản trị cần phải liên tục tạo động lực cho người lao động, giúp cho người lao động hăng say làm việc và phát huy tính sáng tạo trong công việc. Tạo động lực không chỉ ở trong một vài hành động mà nó ở cả một hệ thống, chính sách, biên pháp tác động vào quá trình làm việc của người lao động.
Qua đó giúp khai thác tối đa tiềm năng và khả năng làm việc của người lao động. Góp phần giúp đạt được các mục tiêu của tổ chức. Tạo động lực làm việc Tạo động lực được hiểu là một hệ thống chính sách, biện pháp, cách thức tác động vào quá trình làm việc của người lao động, đây chính là khả năng tiềm tàng nâng cao năng suất lao động và hiệu quả công tác của tổ chức, đây cũng là trách nhiệm của các nhà quản trị, của những người quản lý trong quá trình tạo ra sự gắng 12 sức tự nguyện của người lao động, có nghĩa là tạo được động lực làm việc cho nhân viên của mình. Tạo động lực làm việc là tất cả những hoạt động mà tổ chức có thể thực hiện đối với người lao động, tác động đến khả năng làm việc, tinh thần, thái độ làm việc, khích lệ, động viên người lao động tự nguyện, tự giác nỗ lực làm việc hết mình để nâng cao năng suất làm việc nhằm đem lại hiệu quả cao trong lao động.
Tạo động lực gắn liền với lợi ích hay nói cách khác là lợi ích tạo ra động lực trong lao động. Tạo động lực làm việc cho người lao động là việc thỏa mãn các nhu cầu vật chất hoặc nhu cầu tinh thần của người lao động khi họ gia tăng những đóng góp cho tổ chức. Hơn nữa động lực làm việc giúp cho người lao động làm việc trong một trạng thái tâm lý thoải mái và chủ động, từ đó họ làm việc một cách say mê, hứng thú, sáng tạo, giảm bớt những áp lực trong công việc, có thể khiến người lao động cảm thấy hạnh phúc hơn trong công việc, gắn bó lâu dài với tổ chức, sẵn sàng cống hiến hết mình vì tổ chức. Vai trò, ý nghĩa của việc tạo động lực làm việc Tạo động lực làm việc là một trong những chức năng quan trọng trong công tác quản trị nguồn nhân lực trong các tổ chức.
Trong bối cảnh, khi mà các doanh nghiệp, tổ chức ở Việt Nam gặp giới hạn rất lớn trong việc nâng cao vốn và thay đổi công nghệ, việc tập trung chú trọng đến các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất lao động là hiệu quả và rẻ hơn. Đặc biệt là khi năng suất lao động bình quân đầu người của người lao động Việt Nam thấp hơn rất nhiều so với các nước có cùng điều kiện kinh tế. Do đó, ảnh hưởng quan trọng của tạo động lực làm việc trong ngành quản trị nhân lực là vô cùng quan trọng vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến năng suât làm việc của người lao động. Trong một tổ chức, khi mà người lao động có động lực làm việc cao.
Người lao động sẽ sinh ra sự cố gắng tự nguyện và nâng cao trách nhiệm tự nguyện. Thông qua đó, năng suất lao động và hiệu quả lao động được tăng cao, qua đó, giúp khai thác và mở rộng tiềm năng của người lao động và nâng cao năng lực của tổ chức. Đặc biệt, khi mà động lực làm việc của người lao động nâng cao, vai trò của động 13 lực sẽ bổ sung và thay thế cho vai trò quản lý. Qua đó, góp phần giảm chi phi quản lý hoặc, và tăng hiệu quả quản lý, giúp doanh nghiệp, tổ chức thực hiện tốt hơn các chức năng quản trị khác.
Các học thuyết có liên quan đến việc tạo động lực làm việc Thúc đẩy động cơ làm việc luôn là mối quan tâm mà các nhà quản lý chú trọng. Do đó, các lý thuyết về nội dung này được các nhà nghiên cứu phát triển mạnh mẽ đặc biệt là trong vòng 100 năm trở lại, khi mà các mô hình doanh nghiệp phát triển mạnh hơn về quy mô, năng lực và vượt ra biên giới của quốc gia. Qua nhiều cách tiếp cận và tương ứng nhiều mô hình doanh nghiệp, các lý thuyết được phát triển để đưa ra góc nhìn chung và góp phần giải quyết bài toán quản lý nguồn nhân lực trong các tổ chức, doanh nghiệp. Sau đây, tác giả xin đề cập một số lý thuyết phù hợp với đơn vị đang nghiên cứu trên cở sở đề ra nội dung, đồng thời có những ứng dụng của học thuyết vào cơ quan.
Lý thuyết phân cấp nhu cầu của Maslow Abraham (Harold) Maslow (1908-1970) là một trong những nhà tiên phong người Mỹ trong trường phái “Tâm lý học nhân văn”. Vào năm 1943, ông đã phát triển lý thuyết về Thang bậc nhu cầu hay còn gọi là Tháp nhu cầu. Tháp nhu cầu là một trong những học thuyết nổi tiếng nhất về động lực và được áp dụng rộng rãi trong mọi lĩnh vực từ kinh doanh cho đến marketing, nhân sự hay trong chính cuộc sống của mỗi con người. Trong lý thuyết này, Maslow [6] sắp xếp các nhu cầu của con người theo một hệ thống trật tự dưới dạng hình kim tự tháp, các nhu cầu căn bản ở tầng nền và các nhu cầu ở mức độ cao hơn muốn xuất hiện thì các nhu cầu ở mức độ căn bản đó phải được thỏa mãn trước.