CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VẤN ĐỀ TẠO ĐỘNG LỰC HỌC TOÁN CHO HỌC SINH Ở TRUNG TÂM GIÁO DỤC NGHỀ NGHIỆP – GIÁO DỤC THƯỜNG XUYÊN 1.1 Động lực Có rất nhiều các khái niệm khác nhau về động lực, theo một số tác giả trên thế giới như Schunk D.R (2003), họ cho rằng: “Động lực là quá trình bên trong giúp thúc đẩy, định hướng và duy trì hành động. Động lực được chia thành hai loại: Động lực bên trong và động lực bên ngoài. Tất cả các loại động lực khác nhau đều được phân về một trong hai loại động lực này.
+) Động lực bên trong (hay còn được gọi là động lực nội tại): Được tạo ra từ chính bản thân của chủ thể, động lực bên trong đề cập đến niềm vui, sự hài lòng khi tham gia hoạt động. Theo một số nhà lý thuyết, hai yếu tố cần thiết cho động lực nội là quyền tự quyết hoặc quyền tự chủ và năng lực. Theo quan điểm này, nguyên nhân của hành vi phải từ bên trong và cá nhân tham gia vào hành vi đó phải nhận thức được rằng nhiệm vụ làm tăng năng lực của họ [12]. Các sự kiện theo bối cảnh xã hội như phản hồi và củng cố có thể gây ra cảm giác về năng lực và do đó góp phần tạo ra động lực nội tại [16].
Tuy nhiên, cảm giác về năng lực sẽ không làm tăng động lực nội tại nếu không có cảm giác tự chủ. Trong những tình huống có sự lựa chọn, cảm xúc và cơ hội, động lực nội tại tăng lên vì mọi người cảm thấy tự chủ hơn. Động lực bên trong có xu hướng lâu dài, tự duy trì và thỏa mãn hơn động lực bên ngoài. Vì lý do này, nhiều lần cải cách trong giáo dục nhằm sửa đổi động lực bên trong với mục tiêu thúc đẩy hiệu suất học tập và tính sáng 4 tạo của học sinh.
Nhưng nhiều nghiên cứu cho rằng động lực bên trong khó thay đổi hoặc truyền cảm hứng. Để tạo được động lực bên trong đòi hỏi một cách tiếp cận cá nhân, chúng liên quan đến việc xác định và làm cho các động lực khác nhau cần thiết để thúc đẩy việc học tập của học sinh. Điều này đòi hỏi người giáo viên cần có kĩ năng dẫn dắt, truyền cảm hứng, đam mê học tập đến học trò. +) Động lực bên ngoài: Do ngoại cảnh, các tác nhân bên ngoài tác động lên chủ thể tạo thành như môi trường học tập, giáo viên, bạn bè, tài liệu, nhiệm vụ học tập, …góp phần ảnh hưởng đến động lực bên trong của người học trên con đường lĩnh hội tri thức.
Động lực bên ngoài xảy ra khi một cá nhân bị thúc đẩy bởi những ảnh hưởng bên ngoài, đây có thể là phần thưởng (như tiền, điểm tốt, danh tiếng, v.) hoặc hình phạt (như đe dọa, trừng phạt, đau đớn, v. Sự khác biệt giữa động lực bên trong và bên ngoài nằm trong động lực đằng sau hành động. Khi ai đó có động lực bên trong, họ tham gia vào một hoạt động bởi vì nó vốn đã thú vị hoặc thỏa mãn. Với động lực bên ngoài, mục tiêu của tác nhân là một kết quả mong muốn khác với bản thân hoạt động.
Ví dụ học Toán để được phần thưởng của bố mẹ là động lực bên ngoài, trong khi học Toán vì đam mê, vì yêu thích liên quan đến động lực bên trong. Tuy nhiên, lợi thế của động lực bên ngoài là nó có thể được sử dụng tương đối dễ dàng để thúc đẩy học sinh làm việc để hoàn thành mục tiêu. Một bất lợi là chất lượng công việc có thể cần phải được giám sát vì nếu không thì học sinh có thể không có động lực để hoàn thành tốt công việc. Động lực bên ngoài thúc đẩy sự tham gia vào hoạt động sẽ sớm chấm dứt sau khi phần thưởng bên ngoài bị loại bỏ [17].
Một số nghiên cứu chỉ ra rằng phần thưởng bên ngoài hấp dẫn một cách quá mức hay không có sự hấp dẫn có thể dẫn đến làm giảm động lực bên trong. Trong một nghiên cứu chứng minh hiệu ứng này, những đứa trẻ mong 5 đợi được thưởng một dải ruy băng và một ngôi sao vàng để vẽ tranh đã dành ít thời gian hơn để chơi với các vật liệu vẽ trong những lần quan sát tiếp theo so với những đứa trẻ được giao cho một điều kiện phần thưởng bất ngờ [13]. Điều này chỉ ra rằng con người có xu hướng ít quan tâm đến bản thân hoạt động nếu mong đợi phần thưởng. Tuy nhiên, các nghiên cứu khác cho thấy phần thưởng bên ngoài tích cực hoặc tiêu cực cũng có thể làm tăng động lực bên trong [14].
Điều này dẫn chúng ta đến giả định rằng tác động của động lực bên ngoài đối với động lực bên trong có thể phụ thuộc vào loại phần thưởng. Học sinh có thể có cả động lực bên trong và bên ngoài cho cùng một hoạt động, nhưng thông thường sẽ có một loại động lực chiến ưu thế hơn.2 Động lực học tập Theo các nhà tâm lý Schunk D.R (2003), cho rằng: “Động lực học tập giúp người học trở nên thích thú, tích cực, nhiệt tình và thoải mái tham gia các hoạt động học tập. Một số tác giả trong nước cũng đề cập đến khái niệm động lực học tập trong các công trình nghiên cứu của họ như Đoàn Huy Oánh (2004) cho rằng: “Động lực học tập là trạng thái nội tâm lâu dài giúp học sinh duy trì hứng thú và ham muốn tìm tòi, học hỏi, vượt qua những trở ngại. Vai trò của động lực trong học tập: Trong học tập, động lực quyết định hành vi của mỗi người, nó giúp người học phát huy được tính sáng tạo, tích cực trong học tập, động lực không chỉ giúp người học thực hiện tốt việc học của mình mà còn là yếu tố đóng vai trò then chốt, quyết định trong quá trình tự rèn luyện, hoàn thiện bản thân.
Động lực trong học tập giúp học sinh nâng cao chất lượng, cường độ học tập, động lực bên trong và động lực bên ngoài còn ảnh hưởng đến tinh thần và 6 thái độ học tập của học sinh, nó giúp học sinh vượt qua mọi rào cản bên ngoài để có có thể phấn đấu, vươn lên trong học tập.3 Học sinh ở các trung tâm giáo dục nghề nghiệp – giáo dục thường xuyên * Trung tâm GDNN – GDTX GDNN – GDTX là hệ thống giáo dục gồm các loại hình học tập trong phạm vi giáo dục tiếp tục. Do vậy, GDNN – GDTX không bao gồm các hình thức giáo dục chính quy trong hệ thống giáo dục ban đầu. Như vậy khi nhắc đến GDNN – GDTX là giáo dục tiếp tục và không chính quy. Trung tâm GDNN – GDTX là cơ sở giáo dục thường xuyên của hệ thống giáo dục quốc dân.
Trung tâm GDNN – GDTX bao gồm trung tâm GDNN – GDTX cấp huyện và cấp tỉnh. Do đó, hầu như các tỉnh đều có ít nhất một trung tâm GDNN – GDTX. Mục tiêu chung của các trung tâm GDNN – GDTX - Chương trình Giáo dục thường xuyên (GDTX) cấp trung học phổ thông (THPT) nhằm tạo cơ hội học tập cho người học có nhu cầu để đạt được trình độ giáo dục THPT theo hình thức GDTX, đáp ứng yêu cầu nâng cao dân trí, đào tạo nguồn nhân lực của địa phương và nhu cầu học tập suốt đời, góp phần xây dựng xã hội học tập [5]. - Mục tiêu chung của chương trình GDTX cấp trung học phổ thông là giúp người học tiếp tục phát triển các chất và năng lực cần thiết của người lao động, ý thức và nhân cách công dân, năng lực tự học và ý thức học tập suốt đời, hoàn thành chương trình giáo dục trung học phổ thông và định hướng nghề nghiệp theo ý mình.
năng lực, điều kiện, hoàn cảnh của bản thân, đáp ứng các yêu cầu để có thể tham gia thị trường lao động và tiếp tục học lên trình độ cao hơn [5]. - Chương trình GDTX cấp THPT nhằm cụ thể hoá mục tiêu chương trình Giáo dục phổ thông đối với GDTX, giúp học viên làm chủ kiến thức phổ 7 thông, biết vận dụng hiệu quả kiến thức, kĩ năng đã học vào đời sống, có khả năng lựa chọn nghề nghiệp phù hợp với sở thích và năng lực; phát triển hài hòa các mối quan hệ xã hội, có nhân cách và đời sống tâm hồn phong phú, đóng góp tích cực vào sự phát triển của đất nước và nhân loại. * Học sinh ở các trung tâm GDNN – GDTX Học viên tại các trung tâm GDNN – GDTX bao gồm mọi lứa tuổi từ người lớn tuổi có nhu cầu học đến học sinh không đỗ vào trường phổ thông công lập. Tuy nhiên phần lớn vẫn là học sinh không đỗ lớp 10 trung học phổ thông muốn học tiếp chương trình cấp 3 của bộ giáo dục và đào tạo.
* Đặc điểm của học sinh ở các trung tâm GDNN – GDTX Học sinh ở các trung tâm GDNN – GDTX có những đặc điểm sau: + Về kiến thức: Học sinh bị hổng kiến thức, mất căn bản, kiến thức nền tảng còn hạn chế, khó khăn để tiếp thu kiến thức mới. + Về kỹ năng: Không biết cách thể hiện các khái niệm, định lý toán học, không biết liên hệ, sâu chuỗi các kiến thức giải quyết các bài tập, các bài toán thực tế, khó khăn khi sử dụng ngôn ngữ toán học trong trình bày một bài giải toán. + Về thái độ: Học không tập trung, hay nói chuyện, làm việc riêng trong giờ, không hăng hái xung phong phát biểu bài xây dựng bài, không hào hứng tham gia vào các nhiệm vụ học tập được giao. + Về tư duy: Theo thang đo phân loại tư duy Bloom, chủ yếu học sinh tại các trung tâm giáo dục nghề nghiệp – giáo dục thường xuyên đang ở cấp độ cơ bản nhất là nhớ, tức là phần lớn học sinh chỉ ghi nhớ, nhắc lại được kiến thức đã được tiếp nhận trước đó một cách máy móc mà không hiểu bản chất của vấn đề.
Một số ít học sinh có thể hiểu được thông tin giáo viên cung cấp, thể hiện qua việc có thể tóm tắt, phân biệt, khái quát hóa vấn đề, hay có thể lấy ví dụ cho khái niệm vừa được học. Việc vận dụng giải quyết bài tập gần như phải có sự hỗ trợ, hướng dẫn của giáo viên. 1 Thang đo phân loại tu duy Bloom 1.4 Tạo động lực cho người học Tại sao học sinh cần phải có động lực trong học tập là câu hỏi mà rất nhiều người đã đặt ra. Động lực trong học tập là rất quan trọng để học sinh có thể hoàn thành được những mục tiêu học tập của mình.