Tổng quan về luận án
Bối cảnh phát triển kinh tế toàn cầu và tiến trình hội nhập quốc tế sâu rộng đã đặt ra những yêu cầu cấp bách đối với việc tối ưu hóa các công cụ điều tiết kinh tế vĩ mô tại các nền kinh tế mới nổi. Luận án tiến sĩ kinh tế chuyên ngành Tài chính - Ngân hàng (Mã số: 9.01) của tác giả Nguyễn Thị Hoa, dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Vũ Nhữ Thăng tại Học viện Tài chính (2022), mang tên "Chính sách tài khóa hướng tới tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam", là một công trình nghiên cứu toàn diện, phân tích thực chứng tác động tương hỗ giữa công cụ thu - chi ngân sách nhà nước (NSNN) và quỹ đạo tăng trưởng kinh tế (TTKT). Tính tiên phong của luận án thể hiện ở việc tiếp cận chính sách tài khóa (CSTK) như một cấu trúc thích ứng động qua ba thập kỷ biến đổi cấu trúc kinh tế (1991–2020), đặc biệt làm rõ phản ứng chính sách trước các cú sốc bất đối xứng như đại dịch COVID-19 và các bất ổn địa chính trị toàn cầu.
Khoảng trống nghiên cứu (research gap) được định vị rõ nét: Trong khi các công trình quốc tế và trong nước trước đây (như Gemmell và cộng sự, 2011; Paparas & Richter, 2015; Bùi Nhật Tân, 2015; Nguyễn Thanh Giang, 2018) thường chỉ đánh giá CSTK ở một giai đoạn ngắn hạn, tiếp cận đơn lẻ từng cấu phần thu hoặc chi, hoặc thiếu vắng một khung phân tích định lượng chuỗi thời gian dài hạn phản ánh sự chuyển dịch mô hình tăng trưởng, thì luận án này giải quyết triệt để sự thiếu hụt đó. Luận án đặt ra hệ thống câu hỏi nghiên cứu (Research Questions - RQ) và giả thuyết thực nghiệm (Hypotheses - H) được mã hóa nhất quán:
- RQ1: Thu NSNN và từng sắc thuế thành phần tác động như thế nào đến tổng cầu và tăng trưởng sản lượng trong ngắn hạn và dài hạn?
- Giả thuyết H1: Quy mô thu NSNN có mối quan hệ phi tuyến và tác động ngược chiều đến tăng trưởng kinh tế trong dài hạn nếu vượt qua ngưỡng chịu đựng của nền kinh tế do làm suy giảm thu nhập khả dụng ($Y_D$) và biên lợi nhuận tái đầu tư của doanh nghiệp.
- RQ2: Chi NSNN (chi đầu tư phát triển và chi thường xuyên) thúc đẩy hay tạo ra hiệu ứng lấn át (crowding-out effect) đối với khu vực kinh tế tư nhân tại Việt Nam?
- Giả thuyết H2: Chi đầu tư phát triển (ĐTPT) tạo ra ngoại ứng tích cực (positive externalities), thúc đẩy tăng trưởng trong dài hạn, trong khi chi thường xuyên chỉ có tác động kích thích tổng cầu ngắn hạn nhưng gây áp lực thâm hụt ngân sách kéo dài.
- RQ3: Mức độ lan tỏa và độ trễ chính sách của CSTK biến chuyển ra sao trong các chu kỳ kinh tế và tình huống khẩn cấp?
- Giả thuyết H3: Tồn tại mối quan hệ đồng tích hợp dài hạn bền vững giữa các công cụ tài khóa và tổng sản phẩm quốc nội (GDP), với cơ chế tự hiệu chỉnh sai số (ECM) đưa nền kinh tế về mức cân bằng tiềm năng sau các cú sốc vĩ mô.
Khung lý thuyết của luận án được xây dựng dựa trên sự tích hợp giữa trường phái kinh tế vĩ mô Keynesian (Keynes, 1936, 1973), lý thuyết Tăng trưởng Tân cổ điển (Solow, 1956), mô hình Tăng trưởng nội sinh (Barro, 1990) và khung cân bằng đồng thời IS-LM (Hicks-Hansen). Phạm vi dữ liệu bao quát toàn bộ chuỗi số liệu thường niên trong suốt 30 năm (1991–2020) gồm 30 quan sát vĩ mô đại diện, chia thành ba phân kỳ phát triển chiến lược (1991–2000, 2001–2010, 2011–2020), mở rộng tầm nhìn dự báo và hoạch định giải pháp đến năm 2030.
Literature Review và Positioning
Tổng quan y văn quốc tế và trong nước về mối quan hệ giữa CSTK và TTKT ghi nhận sự tồn tại của các dòng lý thuyết và kết quả thực nghiệm đa chiều, thậm chí trái ngược nhau:
Trường phái ủng hộ vai trò tích cực của CSTK khởi nguồn từ luận điểm của John Maynard Keynes (1936, 1973), cho rằng khi sản lượng thực tế nằm dưới mức tiềm năng ($Y < Y^*$), việc áp dụng CSTK mở rộng (tăng chi tiêu công $G$ hoặc cắt giảm thuế $T$) sẽ kích cầu, giải phóng năng lực sản xuất và tạo việc làm. Ram (1986) và Đào Thị Bích Thủy (2014) trong nghiên cứu khối ASEAN-5 (1990–2012) bổ sung rằng chi tiêu chính phủ tạo ra ngoại ứng tích cực trực tiếp lên hàm sản xuất của khu vực tư nhân. Tosun & Abizadeh (2005) đối với 21 nước OECD (1980–1999) và Mashkoor và cộng sự (2010) tại Pakistan cũng xác nhận chính sách thuế được thiết kế hợp lý thúc đẩy tăng trưởng thông qua việc tài trợ cho cơ sở hạ tầng.
Ngược lại, trường phái hoài nghi và các nhà kinh tế học Tân cổ điển nhấn mạnh tác động tiêu cực của méo mó tài khóa. Ferede & Dahlby (2012), Poulson & Kaplan (2008), cùng Dackehag & Hansson (2012) chỉ ra rằng thuế suất thu nhập doanh nghiệp và thuế thu nhập cá nhân cao làm gia tăng chi phí vốn, triệt tiêu động lực tiết kiệm và giảm cung lao động. Nghiên cứu của Arnold (2009) trên 26 nền kinh tế châu Âu giai đoạn 1965–2007 chứng minh mức tăng 2% trong tỷ lệ thu thuế làm suy giảm GDP thực bình quân đầu người từ 0,5% đến 1%. Tương tự, Irena Szarowská (2010) khảo sát 24 quốc gia EU giai đoạn 1995–2008 kết luận tăng 1% thuế làm giảm 0,43% tốc độ TTKT. Về mặt chi tiêu, Landau (1983) và Barro (1991) lập luận chi tiêu chính phủ quá mức dẫn đến hiện tượng lấn át tín dụng tư nhân.
Tại các nền kinh tế đang phát triển, bằng chứng thực nghiệm càng trở nên phức tạp. Baldacci và cộng sự (2004) lập luận không nên lạm dụng tăng chi tiêu công khi hiệu quả quản trị tài khóa thấp, thay vào đó cần cải cách hệ thống thuế. Nghiên cứu của Matthew Kofi Ocran (2011) tại Nam Phi (1990–2008) cho thấy các công cụ tài khóa chỉ có tác động khiêm tốn trong ngắn hạn nhưng để lại hệ quả dài hạn. Anthony Igwe và cộng sự (2015) tại Nigeria (1970–2012) chỉ ra chi đầu tư thúc đẩy tăng trưởng nhưng thuế thu nhập gây ức chế sản xuất. Kadir Karagöz & Rıdvan Keskin (2016) tại Thổ Nhĩ Kỳ ghi nhận ảnh hưởng của thu - chi ngân sách lên các biến số kinh tế vĩ mô là tương đối hạn chế. Đặc biệt, Idrees Khawaja (2019) khi phân tích mẫu 56 quốc gia phát hiện CSTK có tác động dương tại các nước phát triển nhưng lại mang dấu âm tại các nước đang phát triển do hạn chế về năng lực thể chế.
Định vị nghiên cứu của luận án: Kế thừa các kết quả thực nghiệm trong nước (Phạm Thế Anh, 2008; Sử Đình Thành, 2011; Trần Trung Kiên, 2015, 2018; Nguyễn Bá Minh và cộng sự, 2020), luận án vượt lên bằng việc khắc phục tính đơn lẻ của các nghiên cứu trước. Luận án đặt toàn bộ hệ thống thu - chi NSNN của Việt Nam trong một chỉnh thể thống nhất suốt 30 năm đổi mới, đồng thời so sánh trực diện với các bằng chứng quốc tế để đưa ra kết luận thực chứng chính xác về tính hữu hiệu của CSTK đối với nền kinh tế chuyển đổi.
Đóng góp lý thuyết và khung phân tích
Đóng góp cho lý thuyết
Luận án đóng góp quan trọng vào lý luận kinh tế học tài chính công thông qua việc mở rộng và kiểm chứng các lý thuyết nền tảng trong bối cảnh nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa:
- Bổ sung cơ chế truyền dẫn của CSTK trong mô hình tổng cầu Keynes: Luận án làm rõ tác động lan tỏa của chính sách thu NSNN thông qua hàm thuế ròng $T = T_0 + T_m Y$ và hàm tiêu dùng hiệu chỉnh $C = C_0' + C_m' Y$ (với $C_0' = C_0 - C_m T_0$ và $C_m' = C_m(1 - T_m)$). Minh chứng chỉ ra rằng việc điều chỉnh thuế suất biên $T_m$ có độ trễ tác động trực tiếp đến thu nhập khả dụng ($Y_D = Y - T$), từ đó định hình lại tổng cầu ($AD$) và sản lượng cân bằng ($Y$).
- Làm sâu sắc hóa Lý thuyết Tăng trưởng nội sinh của Barro (1990): Tác giả chứng minh chi ĐTPT của Nhà nước đóng vai trò là "vốn mồi" (catalytic capital), kích hoạt dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và khu vực tư nhân, trong khi chi thường xuyên nếu không được kiểm soát chặt chẽ sẽ gây méo mó phân bổ nguồn lực.
- Định nghĩa lại khái niệm CSTK thích ứng: Luận án đề xuất luận điểm rằng: "CSTK là việc tập trung áp dụng hoặc điều chỉnh các chính sách thu NSNN và chi NSNN để tác động tới TTKT và giải quyết các vấn đề xã hội. Hay nói cách khác, CSTK là hoạt động Chính phủ dùng tác động tổng thể của ngân sách nhà nước lên các hoạt động kinh tế." Khái niệm này khẳng định vai trò kép của tài khóa: vừa kiến tạo tăng trưởng vừa đảm bảo an sinh xã hội.
Khung phân tích độc đáo
Khung phân tích của luận án tích hợp đa tầng ba lý thuyết chủ đạo: Lý thuyết chu chuyển kinh tế vĩ mô, Mô hình IS-LM mở rộng, và Lý thuyết thể chế tài chính công.
Điểm độc đáo trong tiếp cận phân tích là việc xác định các điều kiện biên (boundary conditions): Hiệu lực của CSTK không bất biến mà phụ thuộc chặt chẽ vào dư địa tài khóa (fiscal space), chất lượng thể chế quản trị công, tỷ lệ giải ngân vốn đầu tư công và mức độ phối hợp nhịp nhàng giữa CSTK và chính sách tiền tệ (CSTT). Trích dẫn luận cứ từ y văn trong luận án khẳng định: "chính sách thu NSNN của một quốc gia xác định ai là người trả tiền cho các dịch vụ và hàng hóa công cộng được cung cấp bởi chính phủ. Nói cách khác, bằng cách phân chia tỷ trọng thu ở các hoạt động khác nhau, các quốc gia có thể phân bổ gánh nặng thuế cho các nhóm công dân và các lĩnh vực cụ thể của nền kinh tế" (Ahmad, 2010; Emran & Stiglitz, 2005).
Phương pháp nghiên cứu tiên tiến
Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu được định vị theo hệ hình thực chứng luận (Positivism), kết hợp nhuần nhuyễn giữa phương pháp suy diễn (Deductive reasoning) từ khung lý thuyết chuẩn tắc và phương pháp quy nạp (Inductive reasoning) thông qua tổng hợp thực tiễn 30 năm điều hành tài khóa tại Việt Nam.
Thiết kế nghiên cứu đa phương pháp kết hợp:
- Nghiên cứu định tính: Khảo cứu tài liệu chuyên sâu, phân tích lịch sử chính sách kinh tế qua 3 giai đoạn (1991–2000: giai đoạn phá thế bao vây cấm vận, lập lại ổn định kinh tế vĩ mô; 2001–2010: giai đoạn gia nhập WTO, mở rộng hội nhập và đối phó khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008; 2011–2020: giai đoạn tái cơ cấu nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng và ứng phó đại dịch COVID-19).
- Nghiên cứu định lượng: Ứng dụng mô hình kinh tế lượng chuỗi thời gian hiện đại để kiểm định mối quan hệ nhân quả và phản ứng động giữa các biến số.
Quy trình nghiên cứu rigorous
Quy trình định lượng được thực hiện nghiêm ngặt qua các bước chuẩn tắc kinh tế lượng:
- Kiểm định tính dừng và nghiệm đơn vị (Unit Root Test): Thực hiện kiểm định ADF (Augmented Dickey-Fuller) và PP (Phillips-Perron) trên các chuỗi dữ liệu gốc và sai phân bậc 1 nhằm đảm bảo không có biến số nào dừng ở bậc 2 ($I(2)$), thỏa mãn điều kiện tiên quyết của mô hình ARDL.
- Lựa chọn độ trễ tối ưu: Sử dụng tiêu chí thông tin Akaike (Akaike Information Criterion - AIC) để xác định cấu trúc trễ tối ưu cho các phương trình thu và chi NSNN, xác lập mô hình ARDL(4, 3, 4, 4).
- Kiểm định đường bao (Bounds Test for Cointegration): So sánh giá trị thống kê $F$-Bounds Test với các giá trị tới hạn chặn trên $I(1)$ và chặn dưới $I(0)$ theo tiêu chuẩn Pesaran, Shin & Smith (2001) để xác lập quan hệ đồng tích hợp dài hạn giữa thu, chi NSNN và tăng trưởng GDP.
- Ước lượng ngắn hạn và Mô hình sửa lỗi (ECM): Đo lường tốc độ điều chỉnh của hệ thống về trạng thái cân bằng dài hạn thông qua hệ số $ECT_{t-1}$.
- Kiểm định chẩn đoán và độ ổn định mô hình: Kiểm định tự tương quan (Breusch-Godfrey LM test), phương sai sai số thay đổi (White/ARCH test), phân phối chuẩn của phần dư (Jarque-Bera), và kiểm định tính ổn định của các tham số ước lượng bằng đồ thị tổng tích lũy phần dư (CUSUM) và tổng tích lũy bình phương phần dư (CUSUMSQ) trong dải tin cậy 95%.
Data và phân tích
Toàn bộ dữ liệu được trích xuất từ các nguồn chính thống và có độ tin cậy cao: Tổng cục Thống kê (GSO), Bộ Tài chính, Ngân hàng Thế giới (World Bank - WDI) và Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) trong giai đoạn 1991–2020. Dữ liệu tài chính danh nghĩa được xử lý loại bỏ yếu tố lạm phát bằng chỉ số giảm phát GDP (GDP deflator) theo giá so sánh để đảm bảo tính nhất quán khoa học. Phần mềm kinh tế lượng chuyên dụng STATA được sử dụng trong toàn bộ các phân tích định lượng.
Phát hiện đột phá và implications
Những phát hiện then chốt
Kết quả phân tích định tính và thực nghiệm mô hình ARDL mang lại 4 phát hiện mang tính đột phá:
| STT |
Phát hiện thực nghiệm |
Bằng chứng định lượng & Dữ liệu thực tế |
Ý nghĩa kinh tế & Cơ chế tác động |
| 01 |
Tồn tại mối quan hệ đồng tích hợp dài hạn bền vững giữa CSTK và TTKT |
Kiểm định Bounds Test cho giá trị $F$-statistic vượt ngưỡng tới hạn bậc trên $I(1)$ tại mức ý nghĩa 1%; hệ số $ECT_{t-1}$ âm và có ý nghĩa thống kê cao ($p < 0.01$). |
Khẳng định CSTK tại Việt Nam không có tính trung lập mà có tác động thực chất, sâu sắc đến sản lượng kinh tế cả trong ngắn hạn lẫn dài hạn. |
| 02 |
Tác động bất đối xứng của cơ cấu chi NSNN lên sản lượng |
Chi ĐTPT duy trì hệ số tác động dương có ý nghĩa thống kê trong dài hạn; chi thường xuyên có tác động dương ngắn hạn nhưng mờ nhạt trong dài hạn. |
Khẳng định vai trò của chi đầu tư hạ tầng như động lực nâng cao năng suất vốn tổng thể, hỗ trợ giảm hệ số ICOR của nền kinh tế. |
| 03 |
Quy mô thu thuế và hiệu ứng ngưỡng giới hạn |
Phân tích thực trạng chuỗi 1991–2020 chỉ ra tỷ lệ động viên thu NSNN/GDP đạt đỉnh trên 26% ở giai đoạn 2006–2010 và dần điều chỉnh về mức 24–25% ở giai đoạn 2016–2020. |
Việc tăng thu vượt quá ngưỡng hấp thu sẽ tạo áp lực lên khu vực sản xuất tư nhân, phù hợp với nghiên cứu ngưỡng chi tiêu công 24,67% GDP của Nguyễn Bá Minh (2020) và 22,1% GDP của Trần Trung Kiên (2015). |
| 04 |
Tính thích ứng cao và khả năng chống chịu của CSTK phản chu kỳ |
Trong đại dịch COVID-19 (2020), việc nới lỏng tài khóa khẩn cấp (miễn, giảm, giãn thuế kết hợp tăng chi y tế và ASXH) giúp Việt Nam duy trì tăng trưởng GDP dương 2,91%. |
Khẳng định vai trò của CSTK tùy nghi (Discretionary policy) trong việc ngăn chặn đà đổ vỡ chuỗi sản xuất và bảo vệ an sinh xã hội trước các cú sốc bất khả kháng. |
Trích dẫn từ phần phân tích lý thuyết của tác giả nhấn mạnh: "chi tiêu của Chính phủ sẽ tác động đến thị trường hàng hóa và thị trường các yếu tố sản xuất, từ đó tác động đến tổng cầu của nền kinh tế." Nhận định này đã được chứng minh hoàn toàn qua dữ liệu 30 năm thực tế tại Việt Nam.
Implications đa chiều
- Về mặt học thuật và lý thuyết: Công trình đóng góp bằng chứng thực nghiệm giá trị từ một nền kinh tế chuyển đổi có độ mở thương mại lớn (vượt 200% GDP), kiểm chứng tính phù hợp của lý thuyết Keynes và Tăng trưởng nội sinh trong môi trường thể chế đặc thù.
- Về mặt phương pháp luận: Cung cấp quy trình phân tích chuỗi thời gian ARDL tích hợp kiểm định độ ổn định cấu trúc CUSUM/CUSUMQ, tạo khuôn mẫu tham chiếu cho các nghiên cứu chính sách công tại các quốc gia đang phát triển.
- Về mặt hàm ý chính sách và thực tiễn điều hành:
- Phân kỳ lộ trình chính sách giai đoạn 2022–2030:
- Giai đoạn 2022–2023: Tiếp tục duy trì CSTK mở rộng có trọng tâm, tập trung hỗ trợ phục hồi doanh nghiệp và đẩy nhanh giải ngân các gói đầu tư công thuộc Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội.
- Giai đoạn 2024–2030: Từng bước chuyển dịch sang CSTK thận trọng, củng cố tài khóa (Fiscal consolidation), kiểm soát chặt chẽ bội chi NSNN và trần nợ công.
- Tái cấu trúc chính sách thu: Chuyển trọng tâm từ việc tăng thuế suất sang mở rộng cơ sở thuế (Tax base broadening), chống chuyển giá, xói mòn cơ sở thuế trong nền kinh tế số và thương mại điện tử; giảm dần sự phụ thuộc vào nguồn thu từ đất đai và tài nguyên thô.
- Tối ưu hóa cơ cấu chi: Nâng cao hiệu quả chi ĐTPT, ưu tiên các dự án hạ tầng giao thông liên vùng, chuyển đổi số, khoa học công nghệ và thích ứng biến đổi khí hậu; triệt để tiết kiệm chi thường xuyên thông qua tinh gọn bộ máy và xã hội hóa dịch vụ công.
Limitations và Future Research
Mặc dù đạt được những kết quả toàn diện, luận án thẳng thắn thừa nhận các giới hạn học thuật nhất định:
- Giới hạn về tần suất dữ liệu: Nghiên cứu sử dụng dữ liệu chuỗi thời gian thường niên (30 quan sát từ 1991 đến 2020) do chuỗi dữ liệu tài khóa theo quý của Việt Nam trong giai đoạn trước năm 2000 không đầy đủ và thiếu tính đồng nhất về chuẩn mực kế toán công.
- Giới hạn về cấp độ phân tích: Luận án tập trung vào cấp độ kinh tế vĩ mô quốc gia, chưa bóc tách sâu bức tranh phân cấp tài khóa và chênh lệch hiệu quả chi tiêu ngân sách giữa các địa phương (cấp tỉnh/thành phố).
- Giới hạn về biến số thể chế định lượng: Yếu tố chất lượng thể chế quản trị công (như chỉ số PCI, hiệu quả bộ máy chính phủ) chủ yếu được đánh giá qua phân tích định tính mà chưa được đưa vào mô hình như một biến điều chỉnh (moderating variable) dạng tương tác tương hỗ.
Chương trình nghiên cứu tiếp nối trong tương lai (Future Research Agenda) mở ra 4 hướng đi giàu tiềm năng:
- Ứng dụng mô hình ARDL phi tuyến (NARDL) để kiểm định tính bất đối xứng trong tác động của cú sốc tăng thuế so với giảm thuế lên tăng trưởng.
- Mở rộng nghiên cứu dữ liệu bảng không gian (Spatial Panel Data) phân tích hiệu quả chi tiêu công cấp tỉnh tại 63 tỉnh/thành phố của Việt Nam.
- Tích hợp các chỉ số kinh tế số và tài chính xanh (Green Finance) vào cấu trúc hàm thu - chi tài khóa.
- Đánh giá tác động phân phối thu nhập và bất bình đẳng xã hội của các gói điều chỉnh chính sách thuế trong bối cảnh già hóa dân số.
Tác động và ảnh hưởng
Luận án của NCS. Nguyễn Thị Hoa mang lại giá trị tác động sâu rộng trên nhiều phương diện:
- Ảnh hưởng học thuật: Cung cấp hệ thống dữ liệu chuỗi thời gian 30 năm được chuẩn hóa về thu - chi ngân sách và tăng trưởng GDP của Việt Nam. Công trình là tài liệu tham khảo nền tảng cho các nhà nghiên cứu, giảng viên và nghiên cứu sinh chuyên ngành Tài chính công, Kinh tế phát triển và Kinh tế học vĩ mô.
- Tác động đến hoạch định chính sách: Các khuyến nghị về ngưỡng an toàn tài khóa, nguyên tắc mở rộng cơ sở thuế và phân bổ vốn đầu tư công cung cấp luận cứ khoa học trực tiếp cho Ban Kinh tế Trung ương, Ủy ban Tài chính - Ngân sách của Quốc hội, Bộ Tài chính và Bộ Kế hoạch và Đầu tư trong quá trình xây dựng Chiến lược Tài chính đến năm 2030 và Kế hoạch Tài chính 5 năm quốc gia.
- Lợi ích kinh tế - xã hội: Việc thực thi các giải pháp tái cơ cấu thu - chi NSNN theo đề xuất của luận án góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng từng đồng vốn thuế của người dân, gia tăng hiệu quả đầu tư công (giảm hệ số ICOR), duy trì ổn định kinh tế vĩ mô và tạo môi trường kinh doanh thuận lợi, minh bạch cho cộng đồng doanh nghiệp.
Đối tượng hưởng lợi
- Nghiên cứu sinh và học giả: Tiếp cận một khung phân tích kinh tế lượng chuẩn mực ứng dụng ARDL/ECM trong tài chính công; nhận diện các khoảng trống nghiên cứu sâu hơn về phân cấp tài khóa và độ trễ chính sách.
- Giảng viên đại học: Sử dụng làm học liệu nghiên cứu trường hợp (case study) thực tế sinh động trong giảng dạy các học phần Tài chính công nâng cao, Quản lý Ngân sách Nhà nước và Kinh tế học vĩ mô.
- Cơ quan quản lý nhà nước (Bộ Tài chính, Tổng cục Thuế, Kho bạc Nhà nước): Khai thác các đề xuất thực tiễn về hoàn thiện sắc thuế, cơ chế quản lý chi tiêu công trung hạn và kịch bản ứng phó rủi ro tài khóa khẩn cấp.
- Chuyên gia phân tích vĩ mô và định chế tài chính: Hiểu rõ chu kỳ và định hướng chính sách tài khóa của Việt Nam để dự báo chính xác môi trường lãi suất, tăng trưởng sản lượng và xu hướng đầu tư công.
Câu hỏi chuyên sâu
1. Đóng góp lý thuyết độc đáo nhất của luận án là gì và đã mở rộng lý thuyết nào?
Trả lời: Luận án đã mở rộng Lý thuyết Tăng trưởng nội sinh của Robert Barro (1990) và Khung cân bằng tổng cầu của Keynes trong bối cảnh nền kinh tế chuyển đổi đặc thù. Luận án chỉ ra rằng tại Việt Nam, chi ĐTPT chỉ phát huy tối đa vai trò "vốn mồi" thúc đẩy tăng trưởng dài hạn khi duy trì được cơ chế kiểm soát chất lượng thể chế và cân đối ở ngưỡng quy mô tối ưu, tránh hiệu ứng lấn át đối với đầu tư tư nhân.
2. Điểm đổi mới trong phương pháp nghiên cứu so với các công trình trước đây là gì?
Trả lời: Khác với các nghiên cứu trước (như Bùi Nhật Tân, 2015 chỉ phân tích định tính mô tả, hoặc Trần Trung Kiên, 2018 sử dụng dữ liệu bảng hỗn hợp nhiều quốc gia), luận án sử dụng chuỗi thời gian đơn nhất kéo dài 30 năm (1991–2020) của Việt Nam, áp dụng quy trình kiểm định đường bao ARDL kết hợp kiểm định ổn định cấu trúc CUSUM/CUSUMQ trên STATA, cho phép bóc tách độc lập cả hệ số co giãn ngắn hạn và quan hệ đồng tích hợp dài hạn.
3. Phát hiện thực nghiệm nào gây bất ngờ nhất và bằng chứng dữ liệu đi kèm?
Trả lời: Phát hiện bất ngờ là tính hữu hiệu rất hạn chế của công cụ thuế thu nhập trong việc kích thích tăng trưởng ngắn hạn so với tác động của chính sách chi đầu tư. Dữ liệu chỉ ra rằng việc giảm thuế thu nhập doanh nghiệp trong một số giai đoạn không làm tăng đầu tư tư nhân ngay lập tức do chịu ảnh hưởng bởi niềm tin thị trường và khả năng tiếp cận vốn, trong khi chi giải ngân vốn đầu tư công vào hạ tầng giao thông mang lại tác động lan tỏa sản lượng rõ rệt và bền vững hơn.
4. Luận án có cung cấp quy trình tái lập nghiên cứu (Replication Protocol) không?
Trả lời: Có. Luận án mô tả chi tiết nguồn gốc dữ liệu từ GSO, Bộ Tài chính và World Bank, quy trình xử lý chuỗi số liệu qua chỉ số giảm phát GDP, định nghĩa rõ ràng các biến số đại diện, công thức tính toán và các lệnh ước lượng trong phần mềm STATA, cho phép các nhà khoa học hoàn toàn có thể tái lập và kiểm chứng mô hình.
5. Chương trình nghiên cứu 10 năm tới (2022–2030) được định hình ra sao?
Trả lời: Chương trình nghiên cứu định hình lộ trình tài khóa 2 giai đoạn: (i) 2022–2023 tập trung tài khóa mở rộng có mục tiêu hỗ trợ phục hồi sau dịch bệnh; (ii) 2024–2030 tái cơ cấu tài khóa toàn diện theo hướng bền vững, mở rộng cơ sở thuế số, cắt giảm chi thường xuyên và hiện đại hóa quản trị ngân sách theo chuẩn mực quốc tế.
Kết luận
Công trình nghiên cứu tiến sĩ của Nguyễn Thị Hoa (2022) đúc kết 5 đóng góp học thuật và thực tiễn cốt lõi:
- Hệ thống hóa và hoàn thiện lý luận về CSTK thích ứng và cơ chế truyền dẫn của các công cụ thu - chi NSNN hướng tới mục tiêu tăng trưởng kinh tế bền vững.
- Cung cấp bức tranh thực chứng toàn diện, khách quan về thực trạng điều hành chính sách tài khóa của Việt Nam qua 30 năm Đổi mới (1991–2020) gắn liền với các mốc biến động vĩ mô trong nước và quốc tế.
- Ứng dụng thành công mô hình định lượng ARDL và kiểm định Bounds Test trên chuỗi dữ liệu 30 năm, xác lập bằng chứng vững chắc về mối quan hệ đồng tích hợp dài hạn giữa tài khóa và sản lượng GDP.
- Đánh giá sâu sắc phản ứng tài khóa khẩn cấp trong đại dịch COVID-19, rút ra các bài học kinh nghiệm mang tính lịch sử về quản trị rủi ro tài chính công.
- Đề xuất hệ thống giải pháp và lộ trình chính sách tài khóa phân kỳ khoa học, khả thi đến năm 2030 nhằm bảo đảm an ninh tài chính quốc gia và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế chất lượng cao.