CHƯƠNG I. Bối cảnh nghiên cứu Trong 15 năm qua, ngành công nghiệp chế biến gỗ xuất khẩu Việt Nam luôn cho thấy sự tăng trưởng ấn tượng và đóng góp đáng kể vào thu nhập chung của cả nền kinh tế (xem Phụ lục 2). Năm 2000, kim ngạch xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ1 của cả nước mới ch đạt 219 triệu US thì đến năm 2015 đã tăng gấp 31,5 lần, lên tới con số 6,9 t US , đóng góp 4,25% t trọng xuất khẩu. Ngành gỗ nước ta hiện đang trở thành ngành hàng xuất khẩu chủ lực, đứng vị trí thứ 8 trong số 10 nhóm ngành hàng xuất khẩu lớn nhất cả nước.
Số liệu thống kê thương mại hàng hóa của Liên hợp quốc UN COMTRADE) cho thấy Việt Nam hiện là nước xuất khẩu đồ gỗ lớn thứ 4 trên thế giới, sau Trung Quốc, Đức và Ý. Đồ gỗ sản xuất tại Việt Nam đã có mặt trên 100 quốc gia và vùng lãnh thổ. Mặc dù vậy, trong số 70 nước xuất khẩu đồ gỗ nhiều nhất thì Việt Nam mới ch chiếm khoảng 1,6 thị phần2, chứng tỏ cơ hội để ngành chế biến gỗ xuất khẩu mở rộng thị trường đang rất lớn. Tuy giá trị kim ngạch xuất khẩu năm sau luôn cao hơn năm trước nhưng tốc độ tăng trưởng hàng năm lại cho thấy đang có chiều hướng giảm.
Theo số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan, nếu như giai đoạn 2001–2005, tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu đồ gỗ bình quân đạt 50,4%/năm thì giai đoạn 2005–2010 ch còn 17,8 /năm và trong 5 năm gần đây nhất (2010–2015 , tốc độ tăng trưởng đã giảm xuống còn 15,0 /năm. Năm 2010, t lệ tăng trưởng ngành chế biến gỗ xuất khẩu đạt 30,9% nhưng đến năm 2015 ch còn 10,8 Hình 1. 1 Gỗ và sản phẩm gỗ xuất khẩu bao gồm các sản phẩm thuộc hai mã hàng hóa HS 44 gỗ và các mặt hàng b ng gỗ và HS 94 các mặt hàng đồ gỗ , xem chi tiết tại Phụ lục 1. 2 Số liệu tổng hợp từ Tổng cục Hải quan và Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam (VIFORES).
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Tốc đ t ng t ưởng và gi t t USD i ng ch uất h u ngành g gi i đ n 2001-2015 ( guồn: T gi tính to n t nguồn số i u T ng t H i qu n 119 8 99 Giá trị xuất khẩu t USD) T lệ tăng trưởng (%) 6 79 59 4 39 2 19 -1 0 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011 2012 2013 2014 2015 u ng ng) Mặc dù đạt được thành tựu về kim ngạch xuất khẩu trong nhiều năm qua nhưng hiệu quả sản xuất, xuất khẩu của ngành còn thấp. Theo Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam (VIFORES), năng suất lao động của ngành chế biến gỗ trong nước ch b ng 50 của Philippines, 40 của Trung Quốc và ch b ng 20 năng suất lao động của Liên minh châu Âu (EU); t suất lợi nhuận của các doanh nghiệp chế biến đồ gỗ trong nước mới ch đạt 5- 7%3. Mặt khác, tuy trở thành một trong những trung tâm chế biến đồ gỗ của thế giới nhưng nguồn nguyên liệu cho ngành này lại chủ yếu từ nhập khẩu.
Trong số hơn 7 triệu m3 gỗ nguyên liệu chế biến đồ gỗ xuất khẩu hàng năm thì ch khoảng 3 triệu m3 từ nguồn gỗ rừng trồng trong nước, còn lại là từ nguồn gỗ nhập khẩu. Trong khi đó, với sản lượng khai thác hàng năm từ rừng trồng trong nước khoảng 17-18 triệu m3 gỗ quy tròn thì có đến 70-80 lượng gỗ khai thác này lại được xuất khẩu dưới dạng dăm gỗ - vốn được xem như là xuất 3 Cao Xuân Thanh (2015), Thực trạng và kh năng thí h ứng c a ngành công nghi p chế biến gỗ Vi t Nam với những biến đ i thị trường, áo cáo nghiên cứu của VIFORES. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 3 khẩu nguyên liệu thô theo quan điểm của các doanh nghiệp chế biến gỗ, ch mang lại hiệu quả kinh tế và xã hội hạn chế4. ởi vậy, giá trị gia tăng mà ngành chế biến gỗ xuất khẩu đem lại còn thấp, ch khoảng 51% so với kim ngạch xuất khẩu5.
Quá trình toàn cầu hóa trong hơn một thập k qua đã giúp giảm rào cản gia nhập thị trường, tăng cơ hội cho ngành gỗ xuất khẩu trong nước. Tuy nhiên, ngày càng có nhiều nước nâng cao năng lực sản xuất và chế biến đồ gỗ khiến áp lực cạnh tranh càng trở nên mạnh m. ên cạnh đó, việc tham gia vào chuỗi cung ứng đồ gỗ toàn cầu cũng đồng nghĩa với các doanh nghiệp chế biến gỗ xuất khẩu phải đáp ứng các điều kiện mới đến từ khách hàng quốc tế liên quan đến tính hợp pháp của nguồn gỗ nguyên liệu, vấn đề sử dụng và đảm bảo an toàn lao động, tuân thủ các quy định về môi trường, sở hữu trí tuệ Những dấu hiệu bất ổn nội tại cũng như đòi hỏi khách quan đang đặt ra cho ngành chế biến gỗ xuất khẩu trong nước áp lực phải thay đổi để tham gia hiệu quả hơn vào chuỗi giá trị đồ gỗ toàn cầu. Phân tích chuỗi giá trị ngành chế biến gỗ Việt Nam là để làm r những tồn tại trong từng khâu của chuỗi cung ứng đồ gỗ xuất khẩu hiện tại để có thể đưa ra các giải pháp phù hợp giúp ngành chế biến gỗ nước ta phát triển bền vững.
M c tiêu nghiên cứu Nghiên cứu này nh m xác định những khâu và nhân tố mấu chốt đối với giá trị gia tăng và tăng trưởng của ngành chế biến gỗ xuất khẩu Việt Nam, từ đó đề xuất các giải pháp giúp ngành chế biến gỗ nước ta nâng cao giá trị gia tăng và tăng trưởng bền vững trong bối cảnh hội nhập quốc tế. C u h i nghiên cứu Nghiên cứu tập trung trả lời hai câu hỏi sau: i) Những khâu và nhân tố nào đóng vai trò then chốt đối với giá trị gia tăng và tăng trưởng của ngành chế biến gỗ xuất khẩu hiện nay? ii) Vai trò của Chính phủ nh m nâng cấp chuỗi giá trị chế biến gỗ Việt Nam? 4 Tô Xuân Phúc và đ. 5 Cục Chế biến Nông lâm thủy sản & nghề muối 2014 , n n ng o gi trị gi tăng hàng n ng, m, th y s n; LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Đối tư ng, h vi nghiên cứu - Đối tượng nghiên cứu: Chuỗi giá trị toàn cầu của ngành chế biến gỗ Việt Nam - Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu tập trung vào các khâu chính của chuỗi giá trị ngành chế biến gỗ xuất khẩu Việt Nam với các số liệu phân tích được lấy từ giai đoạn 2000 đến 2015.
Phư ng h nghiên cứu Đề tài sử dụng khung lý thuyết về chuỗi giá trị để tìm hiểu thực trạng ngành công nghiệp chế biến gỗ xuất khẩu Việt Nam thông qua phương pháp phân tích định tính. Thông tin từ các nguồn số liệu thứ cấp được thống kê mô tả, cùng với ý kiến chuyên gia trong ngành s minh chứng cho những nhận định đưa ra nh m trả lời cho các câu hỏi nghiên cứu nêu trên. Các nguồn thông tin chính phục vụ cho đề tài: - Số liệu thứ cấp từ nguồn số liệu của Tổng cục Hải quan; Tổng cục Thống kê; Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; VIFORES; UN COMTRA ; - Tham khảo ý kiến của một số chuyên gia và chủ doanh nghiệp trong ngành chia sẻ về thực trạng ngành chế biến gỗ xuất khẩu tại các Hội thảo ngành chế biến gỗ trong nước trong năm 2015 – 2016 mà tác giả đã dự và tiếp xúc; - Tìm hiểu một số nghiên cứu liên quan. Bố c c luận v n Luận văn s bao gồm 04 chương: Chư ng 1: Trình bày bối cảnh, mục tiêu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phương pháp nghiên cứu; Chư ng 2: Trình bày lý thuyết về chuỗi giá trị; Chư ng 3: Phân tích thực trạng ngành chế biến gỗ xuất khẩu của Việt Nam thông qua phân tích các khâu trong chuỗi giá trị ngành gỗ, từ đó xác định các vấn đề mà ngành này đang đối mặt; Chư ng 4: Kết luận và khuyến nghị.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 CHƯƠNG 2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT Lý thuyết chu i giá tr Theo Kaplinsky, R. (2000), chuỗi giá trị bao gồm các hoạt động cần thiết của một chu trình sản xuất sản phẩm hoặc dịch vụ kể từ giai đoạn nghiên cứu sáng chế, qua các giai đoạn khác nhau của quá trình sản xuất, phân phối đến người tiêu dùng cuối cùng, cũng như xử lý rác thải sau khi sử dụng. Nói cách khác, chuỗi giá trị là tập hợp các giá trị được tạo ra từ các giai đoạn của quá trình sản xuất một sản phẩm hay dịch vụ, từ khâu nghiên cứu phát triển, thiết kế, cung cấp đầu vào, sản xuất, marketing và phân phối tới người tiêu dùng cuối cùng.
Chuỗi giá trị có thể được thực hiện trong một khu vực địa lý hoặc trải rộng ra nhiều quốc gia và trở thành chuỗi giá trị toàn cầu. Theo đó, doanh nghiệp tham gia một công đoạn nào đó trong chuỗi giá trị s đóng vai trò như những mắt xích quan trọng, có thể chi phối sự phát triển của chuỗi giá trị. Dựa trên lý thuyết về chuỗi giá trị, Gereffi, G. (2001) đã xây dựng lý thuyết về chuỗi cung ứng, ông đưa ra hai yếu tố quyết định dạng chuỗi cung ứng của một ngành, gồm: i chuỗi cung ứng do người bán quyết định, với đặc trưng là các ngành công nghiệp thâm dụng vốn và công nghệ như sản xuất máy bay, đồ điện tử ; và ii chuỗi cung ứng do người mua quyết định, đặc trưng bởi các ngành công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng thâm dụng lao động như may mặc, da dày, chế biến thực phẩm với tác nhân chính đóng vai trò trọng yếu để hình thành các mạng lưới sản xuất được phân cấp tại nhiều quốc gia xuất khẩu chính là các nhà buôn, nhà bán lẻ lớn và các nhà sản xuất có thương hiệu.
Ngành chế biến gỗ với đặc trưng là ngành công nghiệp thâm dụng lao động, sản phẩm đến tay người tiêu dùng cuối cùng cũng phải trải qua nhiều công đoạn khác nhau, bao gồm chuẩn bị giống cây trồng, hóa chất, thiết bị và nước cho ngành lâm nghiệp. Cây gỗ sau khi khai thác được chuyển qua nhà máy cưa, nơi nhận các đầu vào sơ khai từ ngành máy móc. Từ đó, gỗ xẻ được chuyển đến các nhà sản xuất đồ gỗ; tiếp đến các nhà sản xuất này lại nhận đầu vào từ ngành máy móc, keo và sơn, và cũng dựa vào kỹ năng thiết kế và quảng bá thương hiệu từ ngành dịch vụ.