Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ THU THUẾ XUẤT NHẬP KHẨU TẠI CỤC HẢI QUAN 1. Cơ sở lý luận về thuế xuất nhập khẩu 1. Khái niệm về thuế xuất nhập khẩu Lịch sử phát triển của xã hội loài người đã chứng minh rằng thuế ra đời, tồn tại và phát triển là đòi hỏi khách quan gắn liền với sự ra đời, tồn tại và phát triển của Nhà nước, nhu cầu của con người. Xã hội phát triển, đi liền với đó là nhu cầu của con người cũng tăng cao, để đáp ứng, thỏa mãn nhu cầu của bản thân bắt buộc con người phải thực hiện trao đổi thương mại.
Nhu cầu ngày càng đa dạng, trước đây hoạt động mua bán, trao đổi thương mại chỉ diễn ra đơn giản, nhưng xu thế thị trường đã làm hoạt động buôn bán ngày càng diễn ra sôi động không chỉ dừng lại trong phạm vi một quốc gia mà còn vươn ra phạm vi các nước trên toàn thế giới. Sự phát triển kinh tế này giúp cho nhà nước phát triển nhưng đi liền với sự phát triển là những vấn đề phức tạp trong quá trình giao dịch giữa các quốc gia, vì vậy thuế xuất khẩu đã được sinh ra như là một công cụ nhằm điều tiết, kiểm soát hoạt động giao thương quốc tế. Có nhiều khái niệm khác nhau về thuế, theo C.Mác “thuế là cơ sở kinh tế của bộ máy Nhà nước, là thủ đoạn giản tiện cho kho bạc thu tiền”, còn Lê Nin cho rằng “thuế là cái Nhà nước thu của dân mà không bù lại”… [25]. Dựa trên những lý thuyết cụ thể được phân tích có thể định nghĩa: Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu (hay thuế Hải quan) là một loại thuế gián thu đánh vào các mặt hàng mậu dịch và phi mậu dịch được phép xuất khẩu, nhập khẩu qua biên giới Việt Nam.
Phân loại thuế xuất nhập khẩu 1. Phân loại thuế xuất nhập khẩu dựa trên mục đích đánh thuế: - Thuế xuất nhập khẩu để tạo nguồn thu: Thuế XNK để tạo nguồn thu: Loại thuế này thường dựa trên nhu cầu của xã hội và mức cung của sản xuất để đánh thuế. Thông thường người ta thường đánh với mức thuế suất cao đối với các mặt hàng NK mà trong nước có nhu cầu cao hoặc với các mặt hàng XK mà thế giới có nhu cầu cao nhưng lượng cung còn thấp để tạo nguồn thu cho NSNN. 6 - Thuế xuất nhập khẩu để bảo hộ:Loại thuế này thường được quy định có lựa chọn.
Nếu trong nước có sản xuất hoặc có khả năng sản xuất nhưng chưa đủ sức cạnh tranh, cần có sự bảo hộ của Nhà nước thì cần phải xây dựng mức thuế bảo hộ để giảm bớt sự cạnh tranh với hàng hoá nhập khẩu. - Thuế xuất nhập khẩu để trừng phạt:Loại thuế này thường được sử dụng để trả đũa những hành vi gây nguy hại cho nền sản xuất trong nước. Một số loại thuế trừng phạt đã được áp dụng là thuế chống bán phá giá, thuế chống trợ cấp, thuế đối kháng. - Thuế xuất nhập khẩu để thúc đấy quan hệ thương mại: Đây là loại thuế được quy định theo hướng cùng một mặt hàng nhưng mức đánh thuế khác nhau tùy theo quan hệ thương mại nhằm thúc đẩy sự phát triển quan hệ thương mại theo hướng có đi, có lại, hai bên cùng có lợi.
Phân loại thuế xuất nhập khẩu dựa trên cách thức đánh thuế - Thuế XNK tuyệt đối: Loại thuế này ghi rõ một số tiền thuế nhất định cho mỗi đơn vị tính của hàng hóa xuất nhập khẩu, không phân biệt chủng loại, giá trị của hàng hóa. Ví dụ quy định số tiền thuế nhập khẩu phải nộp là 30USD/tấn xăng. - Thuế XNK theo tỷ lệ %: Đây là loại thuế tính theo tỷ lệ phần trăm trên giá trị hàng hóa xuất nhập khẩu thực tế của mỗi đơn vị hàng hóa XNK. - Thuế XNK hỗn hợp: Là trường hợp áp dụng kết hợp đồng thời cả 2 loại thuế XNK tuyệt đối và thuế XNK theo tỷ lệ % đối với cùng một mặt hàng.
Ví dụ: quy định thuế nhập khẩu xăng là 20% + 30USD/tấn. Giả sử 1 tấn xăng giá 100USD, thì người nhập khẩu một tấn xăng phải nộp 50USD tiền thuế [30USD + (20% x 100USD)]. - Thuế XNK theo lượng thay thế: Là trường hợp một mặt hàng được quy định đồng thời thuế theo tỷ lệ % và thuế theo một số tiền tuyệt đối; nhưng khi tính và nộp thuế phải tính và nộp theo số thuế nào cao hơn. Ví dụ quy định thuế nhập khẩu xăng là 20% hoặc 30USD/tấn.
Giả sử 1 tấn xăng giá 100USD, thì người nhập khẩu một tấn xăng phải nộp thuế 30USD (vì 30USD sẽ cao hơn 20% x 100USD). Đặc điểm thuế xuất nhập khẩu Thuế xuất nhập khẩu cũng có những đặc điểm của thuế nói chung đó là: - Thứ nhất, mang tính quyền lực nhà nước; thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu có sự gắn bó mật thiết không thể tách rời với Nhà nước, Nhà nước cần có thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu để đáp ứng phần nào nhu cầu chi tiêu của mình; Nhà nước là người duy nhất có quyền đặt ra thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu một mặt để tạo nguồn thu cho ngân sách nhà nước, mặt khác qua đó để kiểm soát và điều tiết đối với hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu hàng hoá và bảo hộ nền sản xuất trong nước. - Thứ hai, mang tính pháp lý cao,là khoản đóng góp bắt buộc cho Nhà nước mà không có sự bồi hoàn trực tiếp nào, việc nộp thuế được thể chế bằng pháp luật mà mọi pháp nhân và thể nhân phải tuân theo. - Thứ ba, chứa đựng các yếu tố kinh tế xã hội, điều đó được thể hiện ở chỗ thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu là một phần của cải của xã hội, mức huy động thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu vào ngân sách nhà nước phụ thuộc vào mức tăng trưởng kinh tế của đất nước, nhu cầu chi tiêu của Nhà nước và các mục tiêu kinh tế xã hội của đất nước đặt ra trong mỗi thời kỳ.
Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu còn có đặc điểm riêng đó là: - Một là, thuế xuất nhập khẩu là thuế gián thu.Đối tượng nộp thuế thông thường không phải là đối tượng chịu thuế. Hàng nhập khẩu này được nhập bởi các công ty và các công ty này có trách nhiệm khai báo và đóng thuế. Người tiêu dùng những mặt hàng này mới là đối tượng chịu thuế. - Hai là, thuế xuất khẩu nhập khẩu gắn liền với hoạt động ngoại thương.
Thuế xuất nhập khẩu chỉ đánh vào hàng hóa xuất, nhập khẩu. Hàng hóa xuất khẩu thì chịu thuế xuất khẩu, còn hàng hóa nhập khẩu thì chịu thuế nhập khẩu. Trên thực tế thuế nhập khẩu thường gặp hơn. Cụ thể là thuế nhập khẩu chỉ thu vào hàng hoá nhập khẩu mà không thu vào hàng hoá sản xuất trong nước.
Khác với thuế nhập khẩu,thuế giá trị gia tăng cũng là một loại thuế gián thu nhưng thu vào cả hàng nhập khẩu và hàng sản xuất trong nước. Thông qua việc thu thuế nhập khẩu, giá vốn của một mặt hàng cụ thể khi đưa từ quốc gia này đến một quốc gia khác sẽ 8 tăng lên tương ứng với mức đánh thuế, từ đó nhằm hạn chế nhập khẩu, bảo vệ và khuyến khích sản xuất trong nước phát triển. Thuế Xuất khẩu (thuế thu từ hàng hoá xuất khẩu), do cơ quan Hải quan quản lý thu khi người xuất khẩu làm thủ tục hải quan xuất khẩu hàng hoá qua cửa khẩu ra khỏi biên giới Việt Nam, thuế xuất đối với hàng hóa xuất khẩu được quy định cụ thể cho từng mặt hàng. - Ba là, thuế nhập khẩu gắn với hoạt động kinh tế đối ngoại của mỗi quốc gia trong từng thời kỳ.
Bởi lẽ, ngoại thương là một trong những hình thức hoạt động cơ bản của kinh tế đối ngoại mà thuế nhập khẩu là công cụ góp phần thực hiện vai trò quản lý, kiểm soát hoạt động ngoại thương của nhà nước. Sự xuất hiện của thuế nhập khẩu bắt nguồn từ yêu cầu điều chỉnh sự vận động của hàng hóa giữa các quốc gia có chủ quyền. Hoạt động kinh tế đối ngoại của mỗi quốc gia trong từng thời kỳ không cố định mà luôn vận động và phát triển theo sự phát triển chung của nhân loại. Vì vậy, có thể nói rằng thuế nhập khẩu gắn chặt với hoạt động kinh tế đối ngoại và luôn vận động, phát triển theo sự phát triển của quan hệ kinh tế đối ngoại của mỗi quốc gia.
- Bốn là, thuế nhập khẩu chỉ do cơ quan Hải quan quản lý thu, cơ quan Thuế các cấp không thu (thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt vừa do cơ quan Hải quan thu vừa do cơ quan thuế thu. Thuế thu nhập doanh nghiệp, thu nhập cá nhân, môn bài. chỉ do cơ quan Thuế các cấp thu), nhằm gắn công tác quản lý thu thuế nhập khẩu với công tác quản lý nhà nước về Hải quan đối với các hoạt động xuất nhập khẩu. Nguyên tắc thiết lập thuế xuất nhập khẩu - Thuế xuất nhập khẩu chỉ đánh vào hàng hóa thực sự xuất khẩu hoặc nhập khẩu.
- Thuế xuất nhập khẩu được phân biệt theo khu vực thị trường và các cam kết song phương, đa phương. - Phải căn cứ vào lợi thế so sánh thương mại và yêu cầu bảo hộ của từng loại hàng hóa và khu vực thị trường để thiết lập biểu thuế phù hợp. - Tuân thủ theo các quy định và thông lệ quốc tế về phân loại mã hàng hóa và tính giá thuế nhập khẩu. Khung pháp lý áp dụng cho công tác quản lý thuế xuất khẩu, nhập khẩu ở Việt Nam Hiện nay, thuế XNK được quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật sau: - Luật thuế xuất nhập khẩu số 107/2016/QH13 được Quốc hội thông qua và ban hành ngày 06 tháng 4 năm 2016.[21] - Nghị định 134/2016/NĐ - CP ngày 01 tháng 9 năm 2016 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật thuế xuất, thuế nhập khẩu; [11] - Thông tư 128/2016/TT - BTC ngày 10 tháng 9 năm 2016 của Bộ Tài Chính quy định về thủ tục hải quan; kiểm tra, giám sát hải quan; thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu và quản lý thu thuế đối với thuế xuất khẩu, nhập khẩu.
Phạm vi áp dụng - Đối tượng chịu thuế: Đối tượng chịu thuế xuất nhập khẩu là tất cả hàng hoá được phép xuất khẩu, nhập khẩu qua cửa khẩu biên giới Việt Nam bao gồm [11]: + Hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu của các tổ chức kinh tế VN thuộc các thành phần kinh tế được phép trao đổi mua bán, vay nợ của nước ngoài. + Hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu của các tổ chức kinh tế nước ngoài, các hình thức đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.