Chương 1: Một số vấn đề lý luận về quản lý thuế nhập khẩu,. Chương 2: Thực trạng quản lý thuế nhập khẩu tại Cục Hải quan Gia Lai – Kon Tum Chương 3: Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý thuế NK tại Cục Hải 4 quan Gia Lai – Kon Tum 6. Tổng quan tài liệu nghiên cứu Đề tài về quản lý thuế nói chung, thuế NK nói riêng đã và đang đƣợc nhiều tổ chức, cá nhân nghiên cứu dƣới nhiều góc độ khác nhau, cụ thể nhƣ sau: a. Đề tài: “Pháp luật quản lý thuế trong nền kinh tế thị trƣờng ở Việt Nam - Những vấn đề lý luận và thực tiễn”, uận án Tiến sĩ uật học của Vũ Văn Cƣơng, Đại học Luật Hà Nội năm 2012.
Trong luận án này, tác giả đã tập trung nghiên cứu các quy định của pháp luật quản lý thuế trong hệ thống pháp luật do Nhà nƣớc ta ban hành để từ đó làm rõ cấu trúc và các yếu tố chi phối nội dung pháp luật quản lý thuế trong nền kinh tế thị trƣờng ở Việt Nam. Sau khi đánh giá thực trạng pháp luật quản lý thuế và thực tiễn áp dụng pháp luật quản lý thuế; kết luận về nguyên nhân của thực trạng; tác giả luận án đã đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật quản lý thuế trong nền kinh tế thị trƣờng ở Việt Nam. Các giải pháp hoàn thiện các quy định về thủ tục hành chính thuế (đăng ký thuế, khai thuế, xóa nợ tiền thuế, tiền phạt.); hoàn thiện pháp luật đảm bảo sự giám sát và tuân thủ pháp luật quản lý thuế (quản lý thông tin về ngƣời nộp thuế, xử lý vi phạm pháp luật thuế, quản lý nợ thuế và cƣỡng chế thuế); hoàn thiện pháp luật về tổ chức bộ máy quản lý thuế; hoàn thiện quy định của pháp luật để lấp lỗ hổng trong pháp luật quản lý thuế (quản lý thuế đối với thƣơng mại điện tử, kiểm soát giá, xã hội hóa công tác quản lý thuế) mà tác giả đƣa ra trong luận án có ý nghĩa rất thiết thực, có thể giúp ích cho các cơ quan Nhà nƣớc có thẩm quyền trong việc xây dựng chính sách, xây dựng pháp luật thuế và trong việc tổ chức thực hiện pháp luật thuế. Đề tài: “Quản lý nhà nƣớc trong lĩnh vực thuế xuất khẩu (XK), NK theo pháp luật Việt Nam”, uận văn thạc sĩ uật học của Trần Thu Trang, Đại 5 học Quốc gia Hà Nội năm 2012.
Ở luận văn này, tác giả đƣa ra một cái nhìn tổng quát các vấn đề lý luận về quản lý nhà nƣớc trong lĩnh vực thuế XK, thuế NK; thực trạng pháp luật Việt Nam và thực tiễn áp dụng vấn đề này. Trên cơ sở so sánh, đối chiếu pháp luật về quản lý nhà nƣớc trong lĩnh vực thuế XK, thuế NK ở Việt Nam qua các thời kỳ; so sánh, đối chiếu với pháp luật nƣớc ngoài, các cam kết quốc tế mà Việt Nam tham gia, ký kết, tác giả luận văn đã đƣa ra một số giải pháp hoàn thiện các quy định của pháp luật Việt Nam về quản lý nhà nƣớc trong lĩnh vực thuế XK, thuế NK nhƣ: hoàn thiện các quy định của pháp luật về cơ cấu tổ chức; xây dựng đội ngũ cán bộ công chức (CBCC) HQ đáp ứng yêu cầu quản lý thuế XK, thuế NK trong điều kiện mới; hoàn thiện các quy định về nộp thuế XK, thuế NK (ân hạn thuế).Các giải pháp tác giả luận văn đƣa ra mang tính thiết thực cao, rất hữu ích cho các cơ quan hữu quan hoàn thiện cơ chế, chính sách quản lý nhà nƣớc trong lĩnh vực thuế XK, thuế NK. Đề tài: “Nâng cao hiệu quả quản lý thuế NK tại Cục Hải quan thành phố Hồ Chí Minh”, Luận văn thạc sĩ Kinh tế của Phan Thị Kiều ê, Đại học Kinh tế thành phố (TP) Hồ Chí Minh năm 2009. Luận văn này chủ yếu nghiên cứu thực trạng hoạt động quản lý thuế NK tại Cục HQ TP.Hồ Chí Minh.
Tác giả luận văn đã tập trung phân tích, đánh giá sâu những hạn chế, tồn tại trong công tác quản lý thuế NK tại Cục HQ TP.Hồ Chí Minh, từ đó đề ra các giải pháp phù hợp nhằm nâng cao hơn nữa công tác này. Ngoài các nhóm giải pháp cơ bản nhƣ: nâng cao năng lực, phẩm chất của đội ngũ cán bộ công chức HQ; tăng cƣờng kiểm tra, kiểm soát, chống buôn lậu, gian lận thƣơng mại; tăng cƣờng và hiện đại hóa cơ sở vật chất ngành HQ.thì có một nhóm giải pháp rất đáng chú ý, đó là các biện pháp hỗ trợ chống nợ đọng thuế. Tác giả luận văn đã đề nghị xem xét rút ngắn thời gian ân hạn thuế đã quy định trong luật, đây cũng là một yếu tố quan 6 trọng góp phần giảm nợ đọng thuế của ngành HQ. Ngoài các đề tài trên còn có một số đề tài, công trình nghiên cứu khác cũng đề cập về quản lý thuế, quản lý thu thuế nhƣ sau: - Đề tài: “Đổi mới quản lý thu thuế XK, thuế NK của ngành HQ hiện nay”, uận văn thạc sĩ Kinh tế của Trần Thành Tô, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh năm 2006; - Đề tài: “Hoàn thiện cơ chế quản lý thuế đối với hàng hoá XNK ngành HQ”, uận văn thạc sĩ Kinh tế của Dƣơng Phú Đông, Đại học Kinh tế quốc dân năm 2008; - Đề tài: “Quản lý thu thuế XK, thuế NK tại Cục HQ thành phố Hải Phòng”, uận văn thạc sĩ Kinh tế của Đặng Văn Dũng, Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh năm 2011; - Đề tài: “Thu thuế XK, thuế NK trên địa bàn tỉnh Ninh Bình”, uận văn thạc sĩ Kinh tế của Hà Trung Thành, Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh năm 2012; - Nghiên cứu: “ uật Quản lý thuế và những vấn đề cần bàn thêm” của TS.
Nguyễn Thị Thƣơng Huyền, Tạp chí nghiên cứu lập pháp số 19/2008; - Công trình nghiên cứu: “Đổi mới quản lý nhà nƣớc đối với XNK ở nƣớc ta trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế” của TS. Đoàn Hồng Lê NXB Đà Nẵng, Đà Nẵng năm 2010. Nhìn chung, các công trình, đề tài trên đều đã hệ thống hóa, làm sáng tỏ những vấn đề về lý luận và thực tiễn, đề cập ở những khía cạnh khác nhau về thuế, quản lý thuế, quản lý thu thuế.Các công trình, đề tài này đã có những đóng góp nhất định cho các cơ quan quản lý nhà nƣớc (trong đó có cơ quan HQ) trong việc hoàn thiện cơ chế, chính sách, chống nợ đọng, chống thất thu thuế cho NSNN. Tuy nhiên, chƣa có công trình, đề tài nào nghiên cứu một cách đầy đủ, toàn diện về công tác quản lý thuế NK tại Cục Hải quan Gia Lai 7 – Kon Tum trong bối cảnh toàn ngành HQ đang áp dụng Hệ thống thông quan tự động VNACCS/VCIS.
Đề tài “Quản lý thuế NK tại Cục Hải quan Gia Lai – Kon Tum” sẽ nghiên cứu một cách đầy đủ và toàn diện hơn về thực trạng công tác quản lý thuế NK tại Cục Hải quan Gia Lai – Kon Tum, từ đó đề xuất những giải pháp phù hợp, khắc phục những tồn tại, bất cập để hoàn thiện hơn công tác quản lý thuế NK của Cục Hải quan Gia Lai – Kon Tum trong thời gian tới, đáp ứng yêu cầu quản lý trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hoá đất nƣớc và hội nhập kinh tế quốc tế. 8 CHƢƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ THUẾ NHẬP KHẨU 1. KHÁI QUÁT VỀ QUẢN LÝ THUẾ NHẬP KHẨU 1. Một số khái niệm a.
Khái niệm thuế nhập khẩu Thuế NK là thuế đánh vào hàng hóa khi NK qua “cửa khẩu” của mỗi quốc gia. Trong điều kiện nền kinh tế mở, các khái niệm “cửa khẩu”, “biên giới quốc gia”, “thị trƣờng trong nƣớc”, “thị trƣờng nƣớc ngoài”.đƣợc hiểu theo nghĩa rộng hơn bởi sự xuất hiện của các hình thức kinh tế nhƣ: khu công nghiệp, khu công nghiệp kỹ thuật cao, khu chế xuất, đặc khu kinh tế.đƣợc hoạt động với các quy chế đặc thù và đƣợc hƣởng những quyền lợi ƣu đãi. Theo Luật Thuế XNK hiện hành và các khái niệm về thuế quan, có thể khái quát khái niệm về thuế NK nhƣ sau: “Thuế NK là khoản thuế đánh vào hàng hóa NK được phép giao thương qua cửa khẩu, biên giới Việt Nam; hàng hóa mua bán, trao đổi của cư dân biên giới; hàng hóa từ khu phi thuế quan vào thị trường trong nước và hàng hóa mua bán, trao đổi khác được coi là hàng hóa NK”. Khái niệm về quản lý thuế NK - “Quản lý là sự tác động có ý thức để chỉ huy, điều hành, hƣớng dẫn các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con ngƣời để hƣớng đến mục đích đúng ý chí và phù hợp với quy luật khách quan” [31, tr.
Quản lý thuế là một dạng quản lý xã hội khi có nhà nƣớc và gắn với quyền lực nhà nƣớc. Quản lý thuế trƣớc hết và quan trọng nhất thuộc trách nhiệm của nhà nƣớc cho nên ngƣời ta thƣờng quan niệm quản lý thuế là quản lý nhà nƣớc trong lĩnh vực thuế. Tuy nhiên, hiện nay, để quản lý thuế có hiệu 9 quả, ở những mức độ nhất định cần có sự tham gia của các tổ chức, cá nhân trong xã hội để hỗ trợ cho công tác quản lý thuế của Nhà nƣớc. Có rất nhiều khái niệm quản lý thuế nhƣ sau: - “Quản lý thuế là quản lý việc thực thi và đảm bảo thực thi các chính sách thuế hay là việc thực hiện quyền hành pháp và tƣ pháp của nhà nƣớc trong lĩnh vực thuế” (Đặng Tiến Dũng, 2003, trích trong Vũ Văn Cƣơng [19]).
- “Quản lý thuế là quá trình tổ chức thực thi các luật thuế, là việc định ra một hệ thống các tổ chức, phân công các chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm cho các tổ chức này, xác lập mối quan hệ hữu hiệu trong việc thực thi luật thuế nhằm đạt đƣợc mục tiêu đã đề ra trong điều kiện môi trƣờng luôn luôn biến động” (Vƣơng Hoàng ong, 2000, trích trong Vũ Văn Cƣơng [19]). - “Quản lý thuế là một quá trình tổ chức, thực thi chính sách thuế, thông qua quá trình tác động của các cơ quan thuế lên các tổ chức và công dân nhằm bảo đảm và tăng cƣờng sự tuân thủ nghĩa vụ thuế một cách đầy đủ, tự nguyện và đúng thời hạn trong điều kiện môi trƣờng quản lý thuế luôn biến động” (Nguyễn Thị Lệ Thúy, 2009, trích trong Vũ Văn Cƣơng [19]). Qua tham khảo các khái niệm trên đây, khái niệm quản lý thuế đƣợc tiếp cận theo hai phạm vi: Theo nghĩa rộng, quản lý thuế là tất cả các hoạt động của nhà nƣớc liên quan đến thuế.