phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, các phụ biểu, luận văn gồm có 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về quản lý thuế xuất nhập khẩu Chƣơng 2: Thực trạng quản lý thuế xuất nhập khẩu tại Cục Hải quan Hà Tĩnh Chƣơng 3: Một số đề xuất hoàn thiện quản lý thuế xuất nhập khẩu tại Cục Hải quan Hà Tĩnh. 8 z CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ THUẾ XUẤT NHẬP KHẨU 1. Khái quát về thuế xuất nhập khẩu 1. Khái niệm thuế xuất nhập khẩu Đến nay chƣa có một khái niệm chính thức nào về thuế xuất nhập khẩu, tuy nhiên trên cơ sở nghiên cứu sự ra đời của thuế xuất nhập khẩu, cũng nhƣ các quan niệm về thuế xuất nhập khẩu ở các góc độ nghiên cứu khác nhau, có thể khái quát thành khái niệm chung về thuế xuất nhập khẩu nhƣ sau: “Thuế xuất nhập khẩu là một loại thuế gián thu; một yếu tố cấu thành trong giá cả hàng hóa, do các tổ chức, cá nhân xuất nhập khẩu hàng hóa thuộc đối tƣợng chịu thuế, thực hiện nghĩa vụ và quyền lợi đóng góp theo luật định cho Nhà nƣớc.
Thuế xuất nhập khẩu là một bộ phận quan trọng trong hệ thống chính sách kinh tế tài chính, thƣơng mại vĩ mô tổng hợp, gắn liền với cơ chế quản lý xuất nhập khẩu, và chính sách đối ngoại của một quốc gia” [15]. Đặc điểm của thuế xuất nhập khẩu Thứ nhất: Mang tính quyền lực Nhà nƣớc, thuế xuất nhập khẩu có sự gắn bó mật thiết không thể tách rời với Nhà nƣớc. Nhà nƣớc cần có thuế xuất nhập khẩu để đáp ứng phần nào nhu cầu chi tiêu của mình; nhà nƣớc là ngƣời duy nhất có quyền đặt ra thuế xuất nhập khẩu một mặt để tạo nguồn thu ngân sách nhà nƣớc, mặt khác qua đó để kiểm soát và điều tiết đối với hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa và bảo hộ nền sản xuất trong nƣớc. Thứ hai: Là khoản đóng góp bắt buộc cho Nhà nƣớc mà không có sự bồi hoàn trực tiếp nào, việc nộp thuế đƣợc thể chế bằng pháp luật mà mọi pháp nhân và thể nhân phải tuân theo.
Vì vậy, thuế xuất nhập khẩu mang tính pháp lý cao. Chứa đựng các yếu tố kinh tế xã hội, điều đó đƣợc thể hiện ở chỗ thuế xuất nhập khẩu là một phần của cải của xã hội, mức huy động thuế xuất nhập khẩu vào ngân sách nhà nƣớc phụ thuộc vào mức tăng trƣởng kinh tế của đất nƣớc, nhu cầu chi tiêu của nhà nƣớc và các mục kinh tế xã hội của đất nƣớc đặt ra trong mỗi thời kỳ. Vai trò thuế xuất nhập khẩu Khi nói đến thuế xuất nhập khẩu ta thƣờng nói đến chính sách thuế xuất nhập khẩu. Đây là một công cụ đặc biệt quan trọng mà bất kỳ nhà nƣớc nào cũng sử dụng để hoàn thành chức năng của mình, thuế còn là nguồn tài chính chủ yếu để phục vụ nhu cầu chi tiêu của xã hội.
Tại Việt Nam, thuế xuất nhập khẩu chiếm một phần đáng kể tỉ trọng thu thuế của quốc gia. Hiện nay nƣớc ta có mức thuế suất thuế xuất khẩu đang ở mức còn thấp và mức thuế suất thuế nhập khẩu đang ở mức cao so với các nƣớc trong khu vực và thế giới, chúng ta đang trong lộ trình cắt giảm và hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới việc cắt giảm thuế sẽ làm số thu giảm số thuế thu từ hoạt động xuất nhập khẩu. Bên cạnh đó, dƣới tác động giản tiếp của hội nhập, nền kinh tế trong nƣớc đã có ảnh hƣởng đến nguồn thu ngân sách nhƣ: số thu thuế từ khu vực kinh tế trong nƣớc, đặc biệt là từ các doanh nghiệp nhà nƣớc sẽ bị ảnh hƣởng mạnh do tác động của cạnh tranh quốc tế và quá trình cải cách doanh nghiệp. Mặt khác, sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế và những thay đổi thị trƣờng trong quá trình hội nhập cũng sẽ thay đổi nguồn thu.
Tuy nhiên, việc cắt giảm thuế cũng sẽ dẫn tới việc thúc đẩy gia tăng kim ngạch thƣơng mại. Các mặt hàng nhập khẩu đƣợc giảm thuế sẽ có số lƣợng nhập khẩu gia tăng. Kết quả sẽ dẫn đến tăng thu thuế giá trị gia tăng và thuế tiêu thụ đặc biệt. Vai trò của chính sách thuế xuất nhập khẩu qua các thời kỳ là nhƣ nhau.
Tuy nhiên, trong bối cảnh toàn cầu hóa nền kinh tế thế giới, sự tăng trƣởng mạnh mẽ của thƣơng mại quốc tế và xu hƣớng tự do hóa thƣơng mại 10 z nhƣ hiện nay thì thuế xuất nhập khẩu còn thể hiện với vai trò là một công cụ để thực hiện các chính sách đối ngoại mà Việt Nam tham gia ký kết. Kiểm soát hàng hóa xuất nhập khẩu Đối với mỗi quốc gia, việc kiểm soát đối với hàng hóa xuất nhập khẩu là nhiệm vụ hết sức quan trọng, đặc biệt trong xu thế tự do hoá thƣơng mại trên phạm vi khu vực và thế giới. Nếu không có sự kiểm soát chặt chẽ thì lƣợng hàng hóa xuất nhập khẩu vào ra sẽ rất lớn, trong số đó có loại phục vụ nhu cầu thiết yếu cho mọi tầng lớp nhân dân trong xã hội, có loại chỉ phục vụ cho một số ít tầng lớp nhân dân trong xã hội…Để khuyến khích hay hạn chế việc xuất nhập khẩu các loại hàng hóa đó nhà nƣớc sử dụng nhiều công cụ khác nhau nhƣ áp dụng hạn ngạch, quy định về tiêu chuẩn kỹ thuật và thuế quan…trong đó thuế quan vẫn là một trong những công cụ hiệu quả nhất. Thuế xuất nhập khẩu là một bộ phận cấu thành của hàng hóa xuất nhập khẩu, nếu áp dụng mức thuế cao thì giá thành hàng hóa xuất nhập khẩu sẽ cao và ngƣợc lại.
Từ đó, nhà nƣớc sẽ có chính sách phù hợp nhằm kiểm soát hàng hóa xuất nhập khẩu, những mặt hàng khuyến khích xuất nhập khẩu thì áp thuế suất thấp, ngƣợc lại những mặt hàng hạn chế xuất nhập khẩu sẽ bị áp dụng mức thuế xuất nhập khẩu cao. Huy động nguồn thu cho Ngân sách Nhà nước Với tiến trình hội nhập kinh tế thế giới, từng bƣớc cắt giảm thuế quan thì vai trò của thuế đối với nguồn thu ngân sách ngày càng giảm, nhƣng đối với các nƣớc đang phát triển nhƣ Việt Nam chúng ta thì thuế xuất nhập khẩu vẫn là nguồn thu quan trọng cho ngân sách quốc gia. Nếu chúng ta áp dụng mức thuế suất thuế nhập khẩu ở mức cao thì vừa bảo hộ sản xuất trong nƣớc, vừa đóng góp nguồn thu đáng kể cho ngân sách. Ngƣợc lại, nếu áp dụng mức thuế suất thuế nhập khẩu thấp, tức khuyến khích nhập khẩu, nhìn bề ngoài số thu đóng góp cho ngân sách thấp hoặc không đáng kể, nhƣng xét trong tổng 11 z thể qui trình sản xuất xã hội, thì thu ngân sách sẽ tăng lên ở khâu tiêu thụ sản phẩm bằng các loại thuế nội địa.
Thực hiện chính sách quản lý, điều tiết vĩ mô nền kinh tế Ngoài việc huy động nguồn thu cho ngân sách, thuế xuất nhập khẩu có vai trò quan trọng trong việc điều chỉnh nền kinh tế. Thuế xuất nhập khẩu có ảnh hƣởng trực tiếp đến giá cả hàng hóa. Vì vậy, căn cứ vào tình hình cụ thể, nhà nƣớc sử dụng công cụ này để chủ động điều hành nền kinh tế. Lúc nền kinh tế quá thịnh thì việc gia tăng thuế có tác dụng ức chế sự tăng trƣởng của tổng nhu cầu làm giảm phát triển của kinh tế.
Những mặt hàng quan trọng nhƣ xăng dầu, sắt thép… khi có sự biến động giá cả trên thế giới, để ổn định giá cả trong nƣớc nhà nƣớc thông qua công cụ thuế để ổn định giá cả. Nhƣ vậy, qua việc xây dựng các luật thuế mà nhà nƣớc có thể chủ động phát huy vai trò điều hoà nền kinh tế. Dựa vào công cụ thuế, nhà nƣớc có thể thúc đẩy hoặc hạn chế việc tích luỹ đầu tƣ, khuyến khích xuất khẩu…. Bảo hộ sản xuất trong nước Ngoài chức năng quản lý, điều tiết vĩ mô nền kinh tế thuế xuất nhập khẩu còn có chức năng bảo hộ nền sản xuất trong nƣớc thông qua việc tác động vào giá cả hàng hóa xuất nhập khẩu trên thị trƣờng.
Tuy nhiên, tác động này chỉ ảnh hƣởng lên giá cả chứ không làm chất lƣợng hàng hóa giảm xuống và mục tiêu này không bền vững, lâu dài và chỉ mang tính tình thế. Thuế quan bảo hộ đƣợc đƣa ra với mục đích làm tăng giá một cách nhân tạo đối với hàng hóa xuất nhập khẩu nhằm bảo hộ cho sản xuất trong nƣớc trƣớc sự cạnh tranh từ nƣớc ngoài. Nói chung thuế quan bảo hộ đƣợc tính toán và đƣa ra khi ngƣời ta cho rằng ở mức thuế suất thấp hơn thì sản xuất trong nƣớc sẽ gặp phải sự cạnh tranh rất quyết liệt từ hàng xuất nhập khẩu và thị phần về cơ bản sẽ nằm trong tay các nhà nhập khẩu. Thực tế, rất khó có thể phân biệt rạch ròi giữa thuế quan tạo nguồn thu 12 z và thuế quan bảo hộ bởi vì bản thân thuế quan đã chứa đựng hai yếu tố là bảo hộ và tạo nguồn thu.
Bảo hộ sản xuất trong nƣớc nhằm hỗ trợ nền sản xuất phát triển, tạo công ăn việc làm và nguồn thu nội địa. Bảo hộ cũng làm giảm tính cạnh tranh, lãng phí nguồn nhân lực gây thiệt hại cho ngƣời tiêu dùng. Chính vì vậy, việc lựa chọn ngành nghề bảo hộ, thời gian bảo hộ phù hợp là điều vô cùng quan trọng. Để mục tiêu bảo hộ mang tính bền vững, lâu dài thì yếu tố quyết định đó là đầu tƣ đổi mới công nghệ, cải tiến phƣơng thức quản lý nhằm nâng cao chất lƣợng, hạ giá thành để sản phẩm có thể cạnh tranh đƣợc ở thị trƣờng trong nƣớc cũng nhƣ quốc tế.
Thực hiện các chính sách đối ngoại Hiện nay, Việt Nam đã thiết lập mối quan hệ thƣơng mại với 160 nƣớc và vùng lãnh thổ, tham gia 86 hiệp định thƣơng mại, 46 hiệp định hợp tác đầu tƣ và 40 hiệp định chống đánh thuế 2 lần, thu hút đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài của trên 70 nƣớc, chính thức là thành viên thứ 150 của WTO từ năm 2006. Để xác định mức độ chịu thuế của các hàng hóa khác nhau mỗi nƣớc đều xây dựng một biểu thuế quan. Biểu thuế quan là một bảng tổng hợp quy định một cách có hệ thống các mức thuế quan đánh vào các loại hàng hóa chịu thuế khi xuất khẩu hoặc nhập khẩu. Biểu thuế quan có thể đƣợc xây dựng dựa trên phƣơng pháp tự định hoặc phƣơng pháp thƣơng lƣợng giữa các quốc gia.
Việc áp dụng các mức thuế suất thuế nhập khẩu đối với hàng hóa từ các nƣớc, vùng lãnh thổ khác nhau thể hiện chính sách đối ngoại của Việt Nam đối với nƣớc, vùng lãnh thổ đó.