CHƯƠNG 1 NHUNG VAN DE LÝ LUẬN VE THUE GIA TRI GIA TANG DOI VOI HANG HOA NHAP KHAU VA PHAP LUAT THUE GIA TRI GIA TANG DOI VOI HANG HOA NHAP KHAU 1. Khái niệm, đặc điểm và vai trò của thuế giá trị gia tăng đối với hàng hóa nhập khẩu 1. Khái niệm thuế giá trị gia tăng đối với hàng hóa nhập khẩu Thuế vừa là phạm trù kinh tế, vừa là phạm trù lịch sử [33, tr. Thuế ra đời là một tất yếu khách quan, gan liền với su ra đời, ton tại va phát triển của Nhà nước, bởi thuế là nguồn cơ sở vật chất bao đảm cho Nhà nước tồn tại và thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của mình.
Ăngghen đã chỉ rõ: "Dé duy trì quyên lực công cộng can có sự đóng góp của những người công dân cho Nhà nước, đó là thuế má. Việc an định các sắc thuế và trực tiếp thực hiện thu thuế là một trong những dấu hiệu cơ bản của Nhà nước, giúp phân biệt với các tổ chức khác tồn tại song hành cùng Nhà nước trong hệ thống chính tri của một nước. Dưới góc độ kinh tế, thuế được hiểu là một khoản đóng góp bắt buộc từ các thé nhân và pháp nhân cho nhà nước theo mức độ và thời hạn được pháp luật quy định nhằm sử dụng cho mục dich công cộng [21, tr. Dưới góc độ pháp lý, định nghĩa: “thuế là khoản thu nộp mang tính bắt buộc mà các tổ chức hoặc cá nhân phải nộp cho nhà nước khi có đủ những điêu kiện nhất định” [43 , tr.
Trước khi có thuế GTGT, các nước áp dụng thuế doanh thu, tuy nhiên, loại thuế này có nhược điểm là tính trùng lắp do thuế đánh lên toàn bộ doanh thu của quá trình từ sản xuất đến tiêu dùng. Khi quá trình sản xuất ra sản phâm càng qua nhiêu khâu, của nhiêu cơ sở sản xuât kinh doanh khác nhau thì tiền thuế trên một đơn vi sản phẩm càng nhiều do thuế đã đánh đi, đánh lại trên doanh thu và tính trùng lên cả tiền thuế nhiều lần. Để khắc phục nhược điểm này, năm 1936, Pháp đã cải tiến thuế doanh thu từ việc tính và nộp ở từng khâu sang hình thức tính và nộp một lần vào công đoạn cuối cùng của quá trình sản xuất (tức là trước khi sản pham được đưa vào lưu thông lần đầu). Việc đánh thuế độc lập một lần như vậy khắc phục được hiện tượng đánh thuế trùng lắp, nhưng cách tính này lại phát sinh nhược điểm là việc thu thuế bị chậm trễ so với trước, vì chỉ khi hàng hóa đi vào lưu thông thì Nhà nước mới thu được thuế.
Trước một thực tế là Nhà nước vừa muốn thu được nhiều thuế vả thu kịp thời, vừa muốn thúc đây sản xuất phát triển dé bồi dưỡng nguồn thu cho giai đoạn sau, các nhà kinh tế đã liên tục sửa đổi, bé sung cho thuế doanh thu ngày càng hoản thiện. Trên cơ sở đánh thuế doanh thu một lần trước khi đưa sản phẩm vào lưu thông, vào đầu những năm năm mươi, một người Đức tên là Carl Friendrich Von Simens đã nghĩ ra một chính sách thuế có thê thay thế cho thuế doanh thu, đó là thuế GTGT tính trên phần giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ khi qua mỗi công đoạn từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng. Thuế này ra đời đánh dau một hướng tư duy mới va sẽ khắc phục được các nhược điểm của thuế doanh thu đã nói ở trên. Mặc dù được khai sinh ở Đức, nhưng vào thời điểm này những lý luận của Carl Friendrich Von Simens đưa ra đã không đủ sức thuyết phục được Chính phủ nên thuế GTGT không được thực hiện đầu tiên ở nước Đức.
Thuế ban đầu xuất hiện có hình thức biểu hiện rất đơn giản dưới dạng hiện vật như quan hệ phu phen, cống nạp, sau đó chuyền dan sang hình thức giá trị. Khi nền sản xuất xã hội phát triển, năng suất lao động được nâng cao và nhu cầu chi tiêu của Nhà nước tăng lên, Nhà nước không ngừng cải tiến, bố sung các loại thuế dé thực hiện việc quan lý nền kinh tế và tăng thêm nguồn thu. Trên thế giới, thuế giá trị gia tăng lần đầu tiên được nhắc đến vào năm 1954 bởi một nhà kinh tế học người Pháp — Maurice Lauré, sau đó chính thức được áp dụng lần đầu tại Pháp vào ngày 10/4/1954 và nhanh chóng trở thành một ngu6n thu quan trọng, chiếm tới hơn 45% ngân khố quốc gia này. Khai sinh ở nước Pháp, với tính ưu việt của mình, thuế GTGT đã nhanh chóng được áp dụng rộng khắp ở nhiều nước trên thế giới.
Tính đến nay, trên thế giới đã có khoảng hơn 130 quốc gia áp dụng thuế GTGT, riêng Châu Á kể từ thập niên 80 trở lại đây đã có sự đã có sự gia tăng vượt bậc về sé lượng các quốc gia ở châu lục này áp dụng VAT, đầu tiên là Triều Tiên (1977), tiếp đến là Indonexia (1985), Dai Loan (1986), Philippine (1988), Mông Cổ (1993), Trung Quốc (1994) và Việt Nam (1999). Tại Việt Nam, ngày 10/5/1997 Quốc hội khóa IX kỳ họp thứ 11 đã lần đầu tiên thông qua Luật thuế GTGT và chính thức có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/1999. Trong suốt quá trình triển khai thực hiện, bên cạnh những đóng góp tích cực cho sự phát triển của kinh tế - xã hội đất nước, Luật thuế GTGT qua từng thời kỳ vẫn bộc lộ những khó khăn vướng mắc cần tháo gỡ. Chính vi vậy, dé phù hợp với tình hình thực tế, Quốc hội đã lần lượt thông qua: Luật sửa đổi, bố sung một số điều của Luật thuế GTGT (2003); Luật sửa đổi b6 sung một số điều của Luật thuế tiêu thụ đặc biệt và Luật thuế GTGT (2005); Luật thuế GTGT (2008); Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế GTGT (2013).
Trong hệ thống thuế hiện nay, thuế GTGT được đánh giá là một trong những sắc thuế hiện đại, tiễn bộ. Thuế GTGT có nguồn gốc từ thuế đoanh thu và Pháp là nước đầu tiên trên thế giới ban hành Luật thuế GTGT - vào ngày 10/4/1954. Thuế GTGT theo tiếng Pháp gọi là: Taxe Sur La Valeur Ajou tée (viết tắt là TVA), tiếng Anh gọi là Value Added Tax (viết tắt là VAT), dịch ra tiếng Việt là thuế GTGT. 10 Và tại Việt Nam, ngày 10/5/1997 Quốc hội khóa IX kỳ hop thứ 11 đã lần đầu tiên thông qua Luật thuế GTGT, chính thức có hiệu lực thi hành ké từ ngày 01/01/1999.
Hiện nay, thuế GTGT đang được điều chỉnh bởi Luật thuế GTGT năm 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2016. Theo đó, Điều 2 Luật thuế GTGT 2008 đưa ra định nghĩa: “Thuế GTGT là thuế tính trên giá trị tăng thêm của hàng hoá, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng”. Xét về bản chất, thuế GTGT “là thuế gián thu, đánh vào việc sử dụng thu nhập, tức đánh vào việc tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ ma cụ thể là đánh vào hành vi chuyển giao tài sản và cung cấp dịch vụ phát sinh trong quá trình sản xuất, lưu thông, tiêu dùng thông qua việc mua bán, trao đổi hàng hóa, dịch vụ.” Hàng hóa nhập khâu là hàng hoá được đưa vào lãnh thổ quốc gia từ nước ngoài hoặc từ khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ quốc gia được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật. Các hàng hóa này cũng là đối tượng chịu thuế giá trị gia tăng trừ các hàng hóa thuộc đối tượng không chịu thuế theo quy định.
Như vậy có thể hiểu, Thuế giá trị gia tăng đối với hàng hóa nhập khẩu là thuế tính trên giá trị tăng thêm của hàng hoá được đưa vào lãnh tho quốc gia từ nước ngoài hoặc khu vực đặc biệt trên lãnh thổ quốc gia được coi là khu vực hải quan riêng phát sinh trong quá trình nhập khẩu hàng hóa. Đặc điểm của thuế giá trị gia tăng doi với hàng hóa nhập khẩu Thứ nhất, cũng như thuế giá trị gia tăng nói chung thuế giá trị gia tăng đối với hàng hóa nhập khẩu có phạm vi đối tượng chịu thuế rất rong. Đối tượng chịu thuế giá trị gia tăng rộng vì đây là sắc thuế thu vào mọi chủ thể có hoạt động sản xuất, kinh doanh hoặc nhập khâu HHDV. Hầu hết các hàng hóa lãi dịch vụ được tạo ra trong nên kinh tế đều là đối tượng chịu thuế giá trỊ gia tăng.
Điều này cũng có nghĩa rằng, mọi tổ chức, cá nhân đều là những chủ thê bị điều tiết bởi thuế giá trị gia tăng thông qua việc họ phải trả tiền thuế giá trị gia tăng khi tiêu dùng HHDV. Việc áp dụng thuế trên phạm vi lãnh thé với mọi đối tượng thể hiện sự công băng của thuế, đồng thời thé hiện thái độ của Nhà nước đối với các loại tiêu dùng trong xã hội. Trong trường hợp cần khuyến khích tiêu dùng hoặc hạn chế việc trả tiền thuế của người tiêu dùng, Nhà nước sẽ không đánh thuế hoặc đánh thuế với mức thuế suất thấp nhất. Thứ hai, đôi tượng chịu thuế giá trị gia tăng đối với hàng hóa nhập khẩu là các loại hàng hóa được đưa vào quốc gia từ nước ngoài hoặc từ khu vực đặc biệt trong lãnh thô quốc gia được coi là khu vực hải quan riêng.
Đây chính là cơ sở quan trọng để phân biệt thuế GTGT đối với hàng hóa nhập khẩu và các loại thuế GTGT khác. Về nguyên tắc hàng hóa nhập khẩu phải kiểm tra, gồm: hàng hóa phải áp dụng biện pháp kỹ thuật, kiểm dịch; hàng hóa có tiềm ân khả năng gây mất an toàn hoặc hàng hóa có khả năng gây mất an toàn theo thông tin cảnh báo từ các tổ chức quốc tế, khu vực, nước ngoài; hàng hóa mà cơ quan có thâm quyền phát hiện không phù hợp và phải tăng cường kiểm tra theo quy định của pháp luật. Thứ ba, thuê GTGT đối với hàng hóa nhập khâu có căn cứ tính thuế là trị giá hàng hóa nhập khâu theo khai báo của người khai hải quan tại cửa khẩu nhập đầu tiên cộng các khoản thuế phát sinh như: thuế trực tiếp, thuế nhập khẩu, thuế tự vệ, thuế chống bán phá giá, thuế bảo vệ môi trường, thuế tiêu thụ đặc biệt (nếu có). Thứ tư, hoạt động thu thuế giá trị gia tăng đối với hang hóa nhập khâu được thực hiện tại khâu nhập khẩu, tức tại các cửa khẩu.
Như vậy có thé thấy, cơ quan hải quan sẽ là chủ thé có vai trò quan 12 trọng trong quá trình thu thuế giá trị gia tăng đối với hàng hóa nhập khẩu.