Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ THU THUẾ XUẤT NHẬP KHẨU 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài: Do tình hình hội nhập của kinh tế Việt Nam vào kinh tế khu vực và thế giới ngày càng mạnh mẽ nên các vấn đề về thuế quan cũng đƣợc chú trọng nghiên cứu ngày một chuyên sâu. Theo đó, các đề tài nghiên cứu liên quan đến công tác quản lý thu thuế XNK cũng đƣợc một số tổ chức và cá nhân liên quan nghiên cứu ở nhiều góc độ khác nhau. Một số đề tài nghiên cứu có liên quan đến lĩnh vực này của cán bộ trong ngành hải quan: - Đề tài: “Các giải pháp tăng cường quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu trong tiến trình gia nhập AFTA của Việt nam”, Luận án tiến sỹ Kinh tế của Nguyễn Danh Hƣng, Học viện Tài chính năm 2003. - Đề tài: “Đổi mới quản lý thu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu của ngành Hải quan hiện nay”, Luận án thạc sỹ Kinh tế của Trần Thành Tô, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh năm 2006.
- Đề tài: “Tiếp tục cải cách, hiện đại hoá Hải quan Việt Nam đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế”, Luận án tiến sỹ Kinh tế của Nguyễn Ngọc Túc, Trƣờng Đại học Ngoại thƣơng Hà Nội năm 2007. - Đề tài: “Hoàn thiện cơ chế quản lý thuế đối với hàng hoá xuất nhập khẩu ngành Hải quan”, Luận văn thạc sỹ Kinh tế của Dƣơng Phú Đông, Đại học Kinh tế quốc dân năm 2008. - Đề tài: “ đổi mới công tác quản lý thuế đáp ứng yêu cầu hiện đại hóa hải quan ở Việt Nam hiện nay” năm 2008, Chủ nhiệm đề tài: Thạc sỹ Lỗ Thị Nhụ - Cục Thuế Xuất nhập khẩu - Tổng cục Hải quan. 5 z - Đề tài: “Quản lý thu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu tại Cục Hải quan thành phố Hải Phòng”, Luận văn thạc sỹ Kinh tế của Đặng Văn Dũng, Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh năm 2011.
Nhìn chung, các đề tài trên đều có đề cập ở những mức độ nhất định về thuế, quản lý thuế, chống thất thu thuế của ngành Hải quan trong từng thời kỳ. Các đề tài này nghiên cứu các vấn đề về công tác quản lý thu thuế XNK ở thời kỳ nghiệp vụ của cơ quan Hải quan còn khá thủ công (giai đoạn 2003 đến 2011) và mức độ hội nhập chƣa tác động nhiều đến thủ tục hải quan nói chung và công tác quản lý thu thuế của Ngành Hải quan nói riêng. Các đề tài trên là các nghiên cứu riêng rẽ, có thể có giống nhau ở khía cạnh nào đó của đối tƣợng nghiên cứu nhƣng phạm vi nghiên cứu khác nhau dẫn tới mục tiêu nghiên cứu, các phƣơng hƣớng giải pháp là khác nhau. Các đề tài của Nguyễn Danh Hƣng (2003), Trần Thành Tô (2006) đề cập trực tiếp đến công tác quản lý thuế của Ngành Hải quan ở giai đoạn đầu của tiến trình hội nhập của Việt Nam (ra nhập AFTA), khi ngành Hải quan chƣa áp dụng hải quan điện tử.
Trên thực tế, công tác quản lý thu thuế ngành Hải quan có nhiều biến động trong khoảng 5 năm gần đây mà sự khác biệt nổi bật chính là cơ quan Hải quan chuyển từ chú trọng công tác tiền kiểm sang hậu kiểm, chuyển từ giải quyết thủ tục hải quan thủ công truyền thống sang thực hiện các quy trình thủ tục hải quan điện tử tự động. Đồng thời việc đề cao tính tự chịu trách nhiệm của doanh nghiệp đã đặt ra một số vấn đề, phƣơng pháp quản lý mới cần nghiên cứu chuyên sâu. Đề tài Lỗ Thị Nhụ (2008) nghiên cứu là đề tài nghiên cứu khoa học cấp ngành đầu tiên ở Việt Nam nghiên cứu dƣới góc độ quản lý nhà nƣớc về cải cách công tác quản lý thuế XNK ở Việt Nam đáp ứng yêu cầu hải quan hiện đại. Đề tài đã đạt đƣợc một số nội dung: 6 z + Xây dựng luận cứ khoa học về quản lý thuế XNK gắn với việc cải cách và hiện đại hóa quy trình, thủ tục hải quan.
+ Đánh giá toàn diện về thực trạng quản lý thuế XNK của ngành Hải quan, tham khảo kinh nghiệm hải quan ở một số nƣớc trong việc thực hiện nhiệm vụ quản lý thuế gắn với yêu cầu cải cách và hiện đại hóa quy trình, thủ tục hải quan; + Trên cơ sở các quan điểm, mục tiêu và yêu cầu, đề tài đã đề xuất các giải pháp nhằm đổi mới công tác quản lý thuế đáp ứng hiện đại hóa hải quan.2 Cơ sở lý luận của quản lý nhà nƣớc về thuế XNK.1 Khái quát về Thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu.1 Khái niệm và đặc điểm của hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu. Hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu bao gồm động sản có tên gọi và mã số theo Danh mục hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu Việt Nam đƣợc xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh hay lƣu giữ trong lãnh thổ hải quan của một quốc gia theo quy định của quốc gia đó, chịu sự quản lý của cơ quan hải quan. Đặc điểm của hàng hóa XNK là hàng hóa đƣợc phép và thực tế đã xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh qua biên giới quốc gia. Các sắc thuế đánh vào hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu.
Thuế là một khoản đóng góp bắt buộc từ các thể nhân và pháp nhân cho Nhà nƣớc theo mức độ và thời hạn đƣợc pháp luật quy định nhằm sử dụng cho mục đích công cộng, không mang tính chất đối giá và hoàn trả trực tiếp cho đối tƣợng nộp thuế. Thuế không phải là một hiện tƣợng tự nhiên mà là một hiện tƣợng xã hội do chính con ngƣời định ra và nó gắn liền với phạm trù Nhà nƣớc và pháp luật. Ở Việt Nam, công tác quản lý thuế nói chung và quản lý thu thuế đối với hàng hóa xuất nhập khẩu nói riêng do cơ quan thuế (Tổng cục thuế, Cục thuế, Chi cục thuế) và cơ quan Hải quan (Tổng cục Hải quan, các Cục Hải 7 z quan địa phƣơng và Chi cục Hải quan) đảm nhận. Cơ quan hải quan quản lý thu thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu (thuế hải quan), bao gồm các sắc thuế sau: Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu Thuế xuất khẩu, nhập khẩu có tên gọi chung mà các nƣớc thƣờng dùng là thuế quan/thuế hải quan (customs duty), là một biện pháp tài chính mà các nƣớc dùng để huy động nguồn thu cho ngân sách nhà nƣớc và can thiệp vào quá trình hoạt động ngoại thƣơng, buôn bán, trao đổi hàng hóa, dịch vụ giữa các quốc gia theo những mục đích nhất định.
Công cụ thuế quan đƣợc các nƣớc sử dụng nhằm hai mục đích chính: động viên nguồn thu quan trọng cho ngân sách nhà nƣớc và bảo hộ nền sản xuất trong nƣớc. Vì thế đây đƣợc coi là công cụ hữu hiệu nhất gắn liền với cơ chế quản lý XNK để điều chỉnh hoạt động thƣơng mại của đất nƣớc. Thuế nhập khẩu là loại thuế đánh vào mỗi đơn vị hàng hóa từ nƣớc ngoài nhập khẩu vào mỗi quốc gia hoặc từ khu chế xuất vào thị trƣờng thuộc lãnh thổ quốc gia đó, còn thuế xuất khẩu đánh vào mỗi đơn vị hàng hóa xuất khẩu ra khỏi biên giới quốc gia hoặc vào các khu chế xuất. Bản chất thuế XNK là loại thuế gián thu, đánh vào hàng hóa XNK làm tăng chi phí của việc đƣa hàng hóa đến một quốc gia khác.
Với vai trò là công cụ để động viên nguồn thu cho ngân sách nhà nƣớc, tùy thuộc vào sự phát triển kinh tế đối ngoại của mỗi nƣớc mà thuế quan giữ vị trí khác nhau trong việc tạo lập nguồn thu cho ngân sách. Đối với các nƣớc phát triển, số thu từ thuế đối với hàng hóa XNK chiếm một tỷ lệ không đáng kể trong tổng thu ngân sách (chỉ từ 1-5%). Còn ở các nƣớc đang phát triển thì thuế XNK luôn đóng vai trò quan trọng trong việc đem lại nguồn thu cho ngân sách nhà nƣớc. Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu là công cụ góp phần bảo hộ sản xuất trong nƣớc, khuyến khích xuất khẩu, góp phần điều tiết kinh doanh và định 8 z hƣớng tiêu dùng.
Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu còn là công cụ để kiểm soát hoạt động ngoại thƣơng, công cụ thu hút vốn đầu tƣ nƣớc ngoài, công cụ để thực hiện phân biệt đối xử trong quan hệ thƣơng mại. Thuế xuất khẩu, nhập khẩu có nguồn gốc từ lâu đời và đƣợc áp dụng rộng rãi trên thế giới, hơn nữa hàng hóa XNK cũng vô cùng đa dạng, phong phú nên có nhiều tiêu chí để phân loại thuế quan. - Theo mục đích, bao gồm: Thuế quan theo mục đích ngân khố, Thuế quan theo mục đích bảo hộ, Thuế chống bán phá giá, Thuế quan theo mục đích trừng phạt. -Theo đối tƣợng chịu thuế, bao gồm: Thuế xuất khẩu, Thuế nhập khẩu, Thuế quá cảnh.
- Theo mức độ quan hệ ngoại thƣơng, bao gồm: Thuế thông thƣờng, Thuế ƣu đãi, Thuế ƣu đãi đặc biệt. - Theo phạm vi áp dụng, bao gồm: Thuế quan tự quản, Thuế quan hiệp định. - Theo cách thức đánh thuế, bao gồm: Thuế đơn vị, Thuế tỷ lệ. Thuế tiêu thụ đặc biệt Thuế tiêu thụ đặc biệt là một loại thuế gián thu, đánh vào một số hàng hóa, dịch vụ thuộc đối tƣợng chịu thuế theo qui định của Luật thuế tiêu thụ đặc biệt.
Thuế đƣợc cấu thành trong giá cả hàng hóa và do ngƣời tiêu dùng chịu khi mua hàng hóa. Các hàng hóa nhập khẩu chịu thuế tiêu thụ đặc biệt nhƣ: Thuốc lá điếu, xì gà và chế phẩm khác từ cây thuốc lá dùng để hút, hít, nhai, ngửi, ngậm; rƣợu, bia, bài lá, vàng mã, hàng mã…. Các dịch vụ chịu thuế tiêu thụ đặc biệt nhƣ: kinh doanh vũ trƣờng, kinh doanh mát-xa, ka-ra-ô-kê; kinh doanh ca-si-nô… Ngƣời nộp thuế tiêu thụ đặc biệt cho hàng hóa nhập khẩu là tổ chức, cá nhân nhập khẩu hàng hóa thuộc đối tƣợng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt. 9 z Trƣờng hợp tổ chức, cá nhân có hoạt động kinh doanh xuất khẩu mua hàng hoá thuộc diện chịu thuế tiêu thụ đặc biệt của cơ sở sản xuất để xuất khẩu nhƣng không xuất khẩu mà tiêu thụ trong nƣớc thì tổ chức, cá nhân có hoạt động kinh doanh xuất khẩu là ngƣời nộp thuế tiêu thụ đặc biệt.
Thuế bảo vệ môi trường Theo điều 2 Luật Thuế Bảo vệ môi trƣờng số 57/2010/QH12: Thuế bảo vệ môi trƣờng (BVMT) là loại thuế gián thu, thu vào sản phẩm, hàng hóa khi sử dụng gây tác động xấu đến môi trƣờng.