Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ CỦA NHNN CẤP TỈNH ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC NHTM 1. Cơ sở lý luận về quản lý của NHNN cấp tỉnh đối với hoạt động của các NHTM 1. Khái quát về quản lý của NHNN cấp tỉnh đối với hoạt động của các NHTM 1. Khái niệm về NHNN, NHTM, hoạt động của các NHTM và đặc điểm hoạt động của các NHTM Khái niệm về NHNN Ở mỗi quốc gia, NHNN có thể có những tên gọi khác nhau xuất phát từ các yếu tố lịch sử, sở hữu, thể chế chính trị.
Dù tên gọi có khác nhau nhưng phương thức hoạt động tính chất, chức năng của các ngân hàng mang bản chất là NHNN hầu như giống nhau, có những điểm tương đồng và xuất phát từ những nguyên tắc tổ chức chung nhất. Phần lớn luật về ngân hàng của các quốc gia đều đưa ra khái niệm về NHNN hoặc thông qua những quy phạm pháp luật xác định đặc điểm, chức năng để thể hiện khái niệm về NHNN. Ở Việt Nam, Luật NHNN năm 2010 [8] quy định: - NHNN Việt Nam là cơ quan ngang bộ của Chính phủ, là Ngân hàng trung ương của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. - NHNN là pháp nhân, có vốn pháp định thuộc sở hữu nhà nước, có trụ sở chính tại Thủ đô Hà Nội.
- NHNN thực hiện chức năng quản lý nhà nước về tiền tệ, hoạt động ngân hàng và ngoại hối; thực hiện chức năng của Ngân hàng trung ương về phát hành tiền, ngân hàng của các tổ chức tín dụng và cung ứng dịch vụ tiền tệ cho Chính phủ. Khái niệm về NHTM NHTM ra đời và phát triển gắn liền với các hoạt động sản xuất kinh doanh của nhân dân và nền kinh tế. Để đưa ra được một khái niệm chính xác và tổng quát nhất về NHTM, người ta thường phải dựa vào tính chất và mục đích hoạt động của nó trên thị trường tài chính, và đôi khi còn kết hợp tính chất, mục đích và đối tượng hoạt động. Ví dụ, ở Mỹ: “NHTM là công ty kinh doanh tiền tệ, chuyên cung cấp dịch vụ tài chính và hoạt động trong ngành công nghiệp dịch vụ tài chính”.
Theo Luật Ngân hàng của Pháp, năm 1941 định nghĩa: “Ngân hàng là những xí nghiệp hay cơ sở nào hành nghề thường xuyên nhận của công chúng dưới hình thức ký thác hay hình thức LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 khác số tiền mà họ dùng cho chính họ vào các nghiệp vụ chiết khấu, tín dụng hay dịch vụ tài chính”. Hay theo như Luật Ngân hàng của ấn Độ năm 1959 đã nêu: “Ngân hàng là cơ sở nhận các khoản tiền ký thác để cho vay hay tài trợ, đầu tư”. Ở Việt Nam, với việc thực hiện chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung sang nền kinh tế thị trường, thực hiện nhất quán chính sách kinh tế nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa, mọi công dân được tự do kinh doanh, bình đẳng trước pháp luật, Nhà nước ta ghi nhận[8]: “Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này (Luật các TCTD năm 2010) nhằm mục tiêu lợi nhuận". Hoạt động của các NHTM NHTM hiện đại hoạt động với ba nghiệp vụ chính đó là: nghiệp vụ nguồn vốn, nghiệp vụ sử dụng vốn và các nghiệp vụ trung gian khác.
(1)- Nghiệp vụ nguồn vốn Nghiệp vụ nguồn vốn (hay còn gọi là nghiệp vụ Nợ), đây là nghiệp vụ ban đầu nhằm tạo lập nguồn vốn hoạt động cho NHTM. Nghiệp vụ nguồn vốn lúc nào cũng được đặc biệt quan tâm chú ý đến, vì ngân hàng nào tạo lập được nhiều nguồn vốn thì có điều kiện tăng quy mô, mở rộng hoạt động tín dụng và đầu tư. Nguồn vốn của NHTM bao gồm: vốn chủ sở hữu; vốn huy động; vốn đi vay và một số nguồn vốn khác. Trong đó, vốn huy động là nguồn vốn chủ yếu và quan trọng, bởi vì vốn huy động chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn vốn của NHTM.
Căn cứ theo tính chất, vốn huy động có thể phân thành hai nhóm: + Nguồn vốn huy động hoạt kỳ bao gồm: tiền gửi không kỳ hạn của cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp và chủ thể kinh tế khác; tiền gửi không kỳ hạn của TCTD khác. + Nguồn vốn huy động định kỳ bao gồm: tiền gửi có kỳ hạn của cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp và chủ thể kinh tế khác; tiền gửi tiết kiệm của dân chúng; vốn huy động từ phát hành giấy tờ có giá (chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu, trái phiếu)… Do đó, nguồn vốn huy động định kỳ thường có tính ổn định, được NHTM sử dụng chủ yếu cho vay trung và dài hạn, đây là điểm khác biệt so với nguồn vốn huy động hoạt kỳ (nguồn vốn ngắn hạn). Đối với nguồn vốn huy động hoạt kỳ, các NHTM chủ yếu sử dụng để cho vay ngắn hạn. Tuy nhiên, trên thực tế tuỳ tình hình kinh tế vĩ mô, NHNN của từng nước cho phép các NHTM được sử dụng một tỷ lệ nhất định từ nguồn vốn huy động hoạt kỳ.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 (2)- Nghiệp vụ tín dụng và đầu tư (Nghiệp vụ sử dụng vốn/Nghiệp vụ tài sản có) Trên cơ sở nguồn vốn huy động được, ngoài việc tính toán mức dự trữ cần thiết nhằm đáp ứng nhu cầu chi trả cho khách hàng, nguồn vốn còn lại các NHTM phân bổ, đáp ứng nhu cầu vốn của nền kinh tế dưới các hình thức cấp tín dụng và đầu tư theo nguyên tắc an toàn và sử dụng vốn hiệu quả. - Nghiệp vụ tín dụng. Cho vay là một hình thức cấp tín dụng của NHTM đối với khách hàng là cá nhân, tổ chức kinh tế; đây là khoản mục chiếm tỷ trọng lớn nhất trong toàn bộ tài sản có sinh lời và là nghiệp vụ chủ yếu để tạo ra lợi nhuận của NHTM. Trong tổng thu nhập của NHTM, thì thu nhập từ hoạt động cho vay thường chiếm tỷ trọng lớn nhất so với thu nhập từ các hoạt động khác của NHTM.
Điều đó, đồng nghĩa với việc hoạt động cho vay các cá nhân và tổ chức kinh tế thường xuyên phát sinh nhiều rủi ro và có mức rủi ro cao nhất trong tổng tài sản có sinh lời của các NHTM. Rủi ro tín dụng có thể do nguyên nhân khách quan từ môi trường kinh tế (do tác động của khủng hoảng tài chính tiền tệ thế giới; thiên tai, dịch bệnh, lũ lụt…) và nguyên nhân chủ quan từ phía NHTM (thiếu kiểm tra, kiểm soát trong cho vay; thực hiện quy trình cho vay, quy thẩm định tín dụng thiếu chặt chẽ; rủi ro đạo đức …. Hoạt động tín dụng của các NHTM có liên quan chặt chẽ tới các ngành, các lĩnh vực của nền kinh tế từ sản xuất kinh doanh đến tiêu dùng. Do đó, cùng với sự phát triển của nền kinh tế, nghiệp vụ tín dụng ngày càng được đa dạng hoá nhằm thoả mãn nhu cầu về vốn cho nền kinh tế, tạo điều kiện gia tăng lợi nhuận cho NHTM.
- Ngoài ra, nghiệp vụ tài sản có còn bao gồm dự trữ (tại hội sở các NHTM) và hoạt động đầu tư, tuy nhiên đây là các tài sản có không sinh lời hoặc sinh lời ở mức rất thấp, được các NHTM duy trì nhằm: đáp ứng nhu cầu chi trả cho khách hàng gửi tiền, bù đắp thiếu hụt trong thanh toán bù trừ, thực hiện dự trữ bắt buộc theo quy định của NHNN, chi phí cho hoạt động của NHTM… (3)- Nghiệp vụ kinh doanh dịch vụ ngân hàng Kinh doanh dịch vụ ngân hàng được xem là nghiệp vụ trung gian của NHTM, đây là hoạt động mang lại thu nhập tương đối an toàn cho các NHTM, ngoài thu nhập từ tín dụng và đầu tư với nhiều rủi ro và độ an toàn không cao. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 Nghiệp vụ kinh doanh dịch vụ ngân hàng ngày càng đa dạng và phong phú như: dịch vụ ngân quỹ; dịch vụ chuyển tiền giữa các ngân hàng trên cùng địa bàn (cùng địa phương) hoặc khác địa bàn (từ địa phương này sang địa phương khác) hoặc từ nước này sang nước khác; dịch vụ thanh toán (thanh toán nội địa và thanh toán quốc tế); dịch vụ thu hộ, chi hộ; dịch vụ uỷ thác; dịch vụ tư vấn tài chính, đầu tư; dịch vụ ngân hàng điện tử; dịch vụ thẻ; dịch vụ kiều hối. Nhìn chung, để thu hút ngày càng nhiều khách hàng sử dụng dịch vụ ngân hàng, nâng cao khả năng cạnh tranh của mình, các NHTM không ngừng chú trọng đổi mới phát triển việc cung cấp dịch vụ ngân hàng theo yêu cầu của khách hàng. Với các dịch vụ cung ứng cho khách hàng, có loại dịch vụ NHTM thu phí, có loại dịch vụ NHTM được hưởng hoa hồng, có loại dịch vụ NHTM ưu đãi, khuyến mãi khách hàng bằng cách không thu phí.
Đối với loại dịch vụ NHTM không thu phí đối với khách hàng, nhưng đổi lại NHTM có điều kiện mở rộng và phát triển các hoạt động kinh doanh khác. Các nghiệp vụ này có quan hệ mật thiết, tác động hỗ trợ thúc đẩy nhau cùng phát triển, tạo nên uy tín và thế mạnh cạnh tranh cho các NHTM, các nghiệp vụ này đan xem lẫn nhau trong quá trình hoạt động của Ngân hàng, tạo nên một chỉnh thể thống nhất trong quá trình hoạt động kinh doanh của NHTM. Đặc điểm hoạt động của các NHTM Căn cứ vào khái niệm thì hoạt động của NHTM có thể được nhận dạng thông qua một số đặc điểm sau: Thứ nhất, hoạt động NHTM là loại hình kinh doanh tiền tệ vì mục tiêu lợi nhuận (bao gồm 2 hình thức chủ yếu là kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng). Trong đó, hoạt động kinh doanh tiền tệ được biểu hiện ở nghiệp vụ huy động vốn dưới các hình thức khác nhau để cấp tín dụng cho khách hàng có nhu cầu về vốn với mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận.
Còn hoạt động dịch vụ ngân hàng được biểu hiện thông qua các nghiệp vụ sẵn có về tiền tệ, thanh toán, ngoại hối và chứng khoán để cam kết thực hiện công việc nhất định cho khách hàng trong một thời hạn nhất định nhằm mục đích thụ hưởng tiền công dịch vụ do khách hàng chi trả dưới dạng phí hay hoa hồng. Thứ hai, hoạt động NHTM là loại hình hoạt động kinh doanh có điều kiện, nghĩa là chỉ khi nào NHTM thoả mãn đầy đủ những điều kiện khắt khe do pháp luật quy định (vốn pháp định, phương án kinh doanh,.) thì mới được phép hoạt động trên thị trường. Nên chủ yếu, hoạt động ngân hàng chỉ do các TCTD thực hiện. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.