CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NGUỒN VỐN TÍCH LŨY ĐỂ CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA 1. Khái niệm nguồn vốn tích lũy và vai trò của nguồn vốn tích lũy đối với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa 1. Khái niệm nguồn vốn tích lũy Lý luận tái sản xuất xã hội của Karl Marx và của kinh tế học hiện đại đều nhấn mạnh vai trò của vốn tích lũy (tích lũy tư bản) đối với quá trình tái sản xuất xã hội, tức quá trình tăng trưởng. Karl Marx đã chỉ ra, nếu trong tái sản xuất giản đơn, nhà tư bản chi hết số giá trị thặng dư thu được vào mục đích tiêu dùng cho cá nhân, thì trong tái sản xuất mở rộng, số giá trị thặng dư được chia làm hai phần: một phần dành vào mục đích tiêu dùng, một phần vào mục đích tăng thêm tư bản ứng trước.
Sự chuyển hóa một phần giá trị thặng dư trở lại thành tư bản hay việc sử dụng giá trị thặng dư làm tư bản được gọi là tích lũy tư bản. Toàn bộ nền sản xuất của xã hội chia thành hai khu vực lớn: sản xuất tư liệu sản xuất (khu vực I) và sản xuất tư liệu tiêu dùng (khu vực II), do đó, dưới hình thức hiện vật, tổng sản phẩm xã hội gồm có tư liệu sản xuất và tư liệu tiêu dùng. Về mặt giá trị, tổng sản phẩm xã hội chia làm ba bộ phận: giá trị tư liệu sản xuất đã hao phí và chuyển vào sản phẩm; giá trị mới tạo ra dùng cho nhu cầu cá nhân của người lao động; giá trị mới tạo ra dùng để mở rộng sản xuất và tăng thêm quỹ tiêu dùng cho xã hội. Bộ phận thứ hai và bộ phận thứ ba là giá trị mới được sáng tạo, hợp thành thu nhập quốc dân.
Thu nhập quốc dân là một bộ phận của tổng sản phẩm xã hội do các ngành sản xuất vật chất sáng tạo ra, là giá trị của tổng sản phẩm xã hội trừ đi phần bù đắp các tư liệu sản xuất đã hao phí. Thu nhập quốc dân là cơ sở để tích lũy vốn cho tái sản xuất mở rộng và để tăng quỹ tiêu dùng, nâng cao mức sống của nhân dân. Như vậy, vốn tích lũy là một bộ phận của thu nhập quốc dân dùng để mở rộng và phát triển nền sản xuất xã hội, cũng như để hình thành nguồn dự trữ vật tư LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com và tài chính. Vốn tích lũy đảm bảo sự phát triển và mở rộng sản xuất, tạo ra cơ sở vật chất – kỹ thuật của nền kinh tế và được thực hiện nhờ có sản phẩm thặng dư.
Cùng với sự phát triển của nền sản xuất xã hội, với việc tăng thu nhập quốc dân, khối lượng vốn tích lũy cũng tăng lên hàng năm. Vốn tích lũy dành một phần lớn để mở rộng sản xuất, xây dựng cơ bản trong các ngành sản xuất vật chất; một bộ phận khác dùng để xây dựng các công trình văn hóa, xã hội như bệnh viện, trường học, …; bộ phận thứ ba dùng làm quỹ dự trữ nhằm ngăn ngừa tình trạng mất cân đối và đề phòng mọi bất trắc có thể xảy ra trong nền kinh tế quốc dân. Còn theo quan niệm của kinh tế học hiện đại [28, tr.78] thì tổng thu nhập của nền kinh tế (Y) tức là tổng sản phẩm quốc dân (GNP) thường được thể hiện ở mô hình đơn giản: Y=C+S Trong đó, C là phần dành cho tiêu dùng, phần còn lại không được tiêu dùng là phần tiết kiệm S. Tuy nhiên, kinh tế học luôn giả định rằng phần không dành cho mục đích tiêu dùng – tức là phần tiết kiệm (S) là phần tài sản được tích lũy với mục đích để đầu tư (I).
Do vậy: Y = C + I và S = I Mục đích của tích lũy vốn là để đầu tư cho hoạt động sản xuất, do vậy người ta gọi I là phần tài sản quốc gia dành cho đầu tư. Như vậy, theo quan niệm của kinh tế học hiện đại thì phần tích lũy vốn để đầu tư (I) trong tổng sản phẩm quốc dân đó là vốn tích lũy của nền kinh tế, nó có mối quan hệ trực tiếp với sự tăng trưởng của nền kinh tế. Một vấn đề nữa trong quan niệm về vốn tích lũy là quan niệm vốn dưới dạng tiền tệ và dưới dạng hiện vật. Vốn bằng tiền nói chung là tất cả các khoản thu nhập thường có, chưa được tiêu dùng của tất cả các tác nhân trong nền kinh tế (người tiêu dùng, người sản xuất, chính phủ, người nước ngoài), được tính bằng đơn vị tiền trong nước ở một thời kỳ nhất định.
Còn về hiện vật, người ta hiểu vốn là các vật chất làm tư liệu sản xuất và được chia ra làm vốn cố định và vốn lưu động dùng vào sản xuất. Tất cả các giá trị bằng tiền và các dạng vật chất thu được, chỉ trở thành vốn tích lũy khi thông qua các hoạt động đầu tư. Nếu xét trên tổng thể nền kinh tế thì nguồn vốn tích lũy bao gồm hai loại sau: nguồn trong nước tiết kiệm được và nguồn từ nước ngoài đưa vào. Nguồn từ nước ngoài đưa vào có thể dưới dạng: đầu tư trực tiếp, đầu tư gián tiếp, các khoản vay nợ và viện trợ, tiền kiều hối, và thu nhập do nhân tố từ nước ngoài chuyển về.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm về vốn tích lũy của Karl Marx cho đến kinh tế học hiện đại, tác giả rút ra khái niệm về vốn tích lũy như sau: “Vốn tích lũy là một bộ phận của thu nhập quốc dân, được hình thành từ sản phẩm thặng dư trong nền kinh tế; với mục đích là để đầu tư cho hoạt động sản xuất, làm tăng trưởng kinh tế và phát triển nền sản xuất xã hội; được thể hiện dưới hai hình thức là tiền tệ và hiện vật”. Vai trò của nguồn vốn tích lũy đối với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa Vốn tích lũy có vai trò quan trọng trong việc tạo ra mọi của vải vật chất và góp phần vào những tiến bộ xã hội, vì thế nó là nhân tố để thực hiện quá trình ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, phát triển kết cấu hạ tầng, chuyển dịch cơ cấu và đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế. Nhờ đó, đời sống của nhân dân ngày một nâng cao, các nguồn lực về con người, tài nguyên thiên nhiên được khai thác hiệu quả hơn và tác động mạnh đến cơ cấu kinh tế của đất nước được chuyển dịch nhanh chóng theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa; làm cho nền kinh tế có các ngành công nghiệp và dịch vụ chiếm tỉ lệ cao và hướng mạnh về xuất khẩu. Kết quả sẽ dẫn tới nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng cao và ổn định.
Tăng trưởng kinh tế đến lượt nó lại là cơ sở cho việc tăng lượng vốn đầu tư đẩy mạnh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước nhanh hơn. - Tác động của vốn tích lũy đến cân bằng kinh tế vĩ mô: một trong những điều kiện cơ bản đảm bảo nền kinh tế tăng trưởng và phát triển là đòi hỏi phải đảm bảo sự cân bằng kinh tế vĩ mô, trong đó mối quan hệ giữa tiết kiệm và đầu tư phải có sự cân đối để nền kinh tế vừa có đủ vốn cho đầu tư phát triển, vừa sử dụng số tiền tiết kiệm hiện có một cách hiệu quả. Vốn tích lũy là hiện thân của sự kết hợp giữa tiết kiệm và đầu tư. Số tiền tiết kiệm được là vốn tích lũy khi được tích tụ và tập trung đến một lượng nhất định để đưa vào đầu tư một dự án.
Nền kinh tế có tiết kiệm mới có cơ hội tăng thêm số vốn hiện hữu, qua đó mở rộng quy mô đầu tư phát triển. Thế nhưng trong nền kinh tế thị trường, tiết kiệm và đầu tư là những hành động được thực hiện bởi những chủ thể khác nhau. Các hộ gia đình quyết định tiết kiệm bao nhiêu trong thu nhập của mình và các doanh nghiệp quyết định mở rộng quy mô đầu tư ở mức độ nào, … tất cả đều là những biến số độc lập. Vì vậy, giữa tiết kiệm và đầu tư khó mà ăn khớp với nhau, nên làm cho nền LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com kinh tế thường rơi vào tình trạng thiếu hoặc thừa vốn, kéo theo là kinh tế vĩ mô không ổn định, tăng trưởng thấp, thất nghiệp gia tăng.
Như vậy, để thiết lập sự cân bằng giữa tiết kiệm và đầu tư đòi hỏi phải sự can thiệp của nhà nước trong việc khuyến khích đầu tư nhằm sử dụng có hiệu quả số vốn từ tiết kiệm góp phần ổn định kinh tế vĩ mô. - Tăng nguồn vốn tích lũy làm tăng tốc độ đầu tư và tốc độ tăng trưởng kinh tế Vốn là một yếu tố đầu vào cơ bản của quá trình sản xuất. Vốn được kết hợp với lao động và tài nguyên, thông qua quá trình sản xuất, sẽ tạo ra của cải vật chất trong xã hội. Vốn không chỉ đóng góp trực tiếp vào tăng trưởng kinh tế với tư cách là đầu vào của sản xuất (đóng góp về mặt lượng) mà còn đóng góp một cách gián tiếp thông qua việc thúc đẩy tiến bộ kỹ thuật do các đầu tư mới mang lại, do lợi thế kinh tế nhờ quy mô lớn – tức là với số ngành, việc đầu tư mở rộng quy mô sẽ làm giảm chi phí sản xuất – do chuyên môn hóa, … đây là những đóng góp về “chất” của vốn tích lũy, tức là hiệu quả của nền kinh tế đã được nâng cao.
Các mô hình tăng trưởng đơn giản đều nhấn mạnh đến yếu tố vốn trong tăng trưởng. Mô hình Harrod – Domar đưa ra mối quan hệ hàm giữa vốn (ký hiệu là K) và tăng trưởng sản lượng (ký hiệu là Y). Mô hình này cho rằng sản lượng của bất kỳ một thực thể kinh tế nào – cho dù đó là một doanh nghiệp, một ngành kinh tế, hay của toàn bộ nền kinh tế - đều phụ thuộc vào số lượng vốn đã đầu tư vào thực thể kinh tế đó, được biểu diễn dưới dạng hàm: Y = K/k Trong đó k là hằng số, được gọi là hệ số vốn – sản lượng. Chuyển sang tốc độ tăng, ta có: ∆Y = ∆K/k Chia cả hai vế của đẳng thức trên cho Y, ta có: ∆Y/Y = (∆K/Y).1/k Chúng ta lưu ý rằng ∆Y/Y chính là tốc độ tăng trưởng kinh tế, ∆K/Y là tỉ lệ đầu tư/GDP.