phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung chính của luận văn đƣợc trình bày trong 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn Chƣơng 2: Biện pháp tăng cƣờng liên hệ Toán học với thực tiễn trong quá trình dạy học chủ đề “Mặt cầu - mặt trụ - mặt nón” của chƣơng trình Hình học 12 Ban Nâng cao. Chƣơng 3: Thực nghiệm sƣ phạm 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN Trong chƣơng này sẽ trình bày ngắn gọn một số lí luận và hoạt động thực tiễn liên quan đến “Tăng cƣờng liên hệ với thực tiễn trong dạy học môn Toán” nhằm phục vụ cho việc nghiên cứu chƣơng 2. Cụ thể làm rõ: - Quan niệm về Thực tiễn nhƣ thế nào trong triết học, trong các tài liệu ngôn ngữ khoa học? - Nguyên tắc thống nhất giữa lí luận và thực tiễn trong quá trình dạy học bộ môn Toán? - Tại sao phải tăng cƣờng thực tiễn trong Toán học? 1. Phạm trù thực tiễn 1.
Thuật ngữ “thực tiễn” trong một số tài liệu ngôn ngữ khoa học Theo từ điển Tiếng việt: “Thực tiễn” là “những hoạt động của con người, trước hết là lao động sản xuất, nhằm tạo ra những điều kiện cần thiết cho sự tồn tại của xã hội”. [25, tr 974] Theo Từ điển học sinh: “Thực tiễn” là “toàn bộ những hoạt động của con người để tạo ra những điều kiện cần thiết cho đời sống xã hội bao gồm các hoạt động sản xuất, đấu tranh giai cấp và thực nghiệm khoa học; không có thực tiễn thì không có lí luận khoa học”. Phạm trù “thực tiễn” trong triết học Phạm trù thực tiễn đã đƣợc LutVich Phoibach – nhà duy vật lớn nhất trƣớc Các Mác đề cập đến. Song ông không nhận thức đƣợc “hoạt động cảm giác của con người là thực tiễn” nên còn quá coi trọng hoạt động lí luận và chƣa thấy hết đƣợc vai trò, ý nghĩa của thực tiễn đối với nhận thức của con ngƣời.
Các nhà duy tâm cũng chỉ hiểu thực tiễn nhƣ là hoạt động tinh thần chứ không hiểu nó nhƣ hoạt động hiện thực, hoạt động vật chất cảm tính của con ngƣời. Ngay cả Hêghen – nhà triết học duy tâm lớn trƣớc Các Mác, mặc dù đã 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com có những tƣ tƣởng hợp lí sâu sắc (bằng thực tiễn, chủ thể tự “nhân đôi” mình, đối tƣợng hóa bản thân mình trong quan hệ với thế giới bên ngoài [6, tr53] nhƣng cũng chỉ giới hạn thực tiễn ở ý niệm, ông cho rằng thực tiễn là một “suy lí lôgic”. Kế thừa những yếu tố hợp lí, chỉ rõ và khắc phục những thiếu sót trong quan điểm của các nhà triết học đi trƣớc. Các Mác và Ăngghen đã đem lại một quan niệm đúng đắn, khoa học về thực tiễn: “Thực tiễn là những hoạt động vật chất cảm tính, có mục đích, có tính lịch sử xã hội của con người, nhằm cải tạo tự nhiên và xã hội”.
[6, tr 54] Nhƣ vậy, thực tiễn không phải bao gồm toàn bộ hoạt động của con ngƣời mà chỉ là những hoạt động vật chất – hoạt động đặc trƣng, có mục đích, có ý thức, năng động, sáng tạo. Hoạt động này có sự thay đổi qua các giai đoạn lịch sử khác nhau và đƣợc tiến hành bởi đông đảo quần chúng nhân dân trong xã hội. Con ngƣời sử dụng các phƣơng tiện, công cụ vật chất, sức mạnh vật chất của mình tác động vào tự nhiên, xã hội để làm biến đổi chúng trong hiện thực cho phù hợp với nhu cầu của mình và làm cơ sở để biến đổi hình ảnh sự vật trong nhận thức. “Thực tiễn trở thành mắt khâu trung gian nối liền ý thức con người với thế giới bên ngoài” [6, tr 55].
Con ngƣời và xã hội loài ngƣời sẽ không thể tồn tại và phát triển đƣợc nếu không có hoạt động thực tiễn (mà dạng cơ bản đầu tiên và nguyên thủy nhất là hoạt động sản xuất vật chất). “Thực tiễn là phương thức tồn tại cơ bản của con người và xã hội, là phương thức đầu tiên và chủ yếu của mối quan hệ giữa con người với thế giới”. Thống nhất giữa lí luận và thực tiễn trong quá trình dạy học môn Toán 1. Nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn Giữa lí luận và thực tiễn có mối quan hệ biện chứng với nhau, tác động qua lại lẫn nhau.
Việc quán triệt mối quan hệ này có ý nghĩa quan trọng trong nhận thức khoa học và hoạt động thực tiễn cách mạng. Con ngƣời quan hệ với 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thế giới bắt đầu từ thực tiễn. Lý luận là hệ thống sản phẩm tri thức đƣợc khái quát từ thực tiễn nhờ sự phát triển cao của nhận thức. Thực tiễn là cơ sở, mục đích và động lực chủ yếu của nhận thức, lý luận.
Thực tiễn cung cấp tài liệu cho nhận thức, không có thực tiễn thì không có nhận thức. Mọi tri thức khoa học dù trực tiếp hay gián tiếp thì xét đến cùng đều bắt nguồn từ thực tiễn. Nhận thức, lý luận sau khi ra đời phải quay về phục vụ thực tiễn, hƣớng dẫn và chỉ đạo thực tiễn. Ngƣợc lại, thực tiễn là công cụ xác nhận, kiểm nghiệm tri thức thu đƣợc là đúng hay sai, chân lý hay sai lầm, nghiêm khắc chứng minh chân lý, bác bỏ sai lầm - “Thực tiễn là tiểu chuẩn của chân lý”.
Cần coi trọng thực tiễn. Việc nhận thức phải xuất phát từ thực tiễn, dựa trên cơ sở thực tiễn, đi sâu đi sát thực tiễn và nghiên cứu lý luận phải liên hệ với thực tiễn - “học đi đôi với hành”. Tuy nhiên, không có nghĩa là coi nhẹ, xa rời lý luận. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: “Thống nhất giữa lí luận và thực tiễn là một nguyên tắc căn bản của Chủ nghĩa Mác – LêNin.
Thực tiễn không có lý luận hướng dẫn thì thành thực tiễn mù quáng. Lí luận không có thực tiễn là lí luận suông. Một số quan điểm về vấn đề liên hệ với thực tiễn trong quá trình dạy học Cố Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh: “Học để hành: Học với hành phải đi đôi. Học mà không có hành thì vô ích.
Hành mà không có học thì không trôi trảy”. Đồng chí Trƣờng Chinh cũng đã nêu: “Dạy tốt. là khi giảng bài phải liên hệ với thực tiễn, làm cho học sinh dễ hiểu, dễ nhớ và có thể áp dụng điều mình đã học vào công tác thực tiễn ” [18, tr 68] Còn theo Giáo sƣ Nguyễn Cảnh Toàn thì trong dạy học không nên đi theo con đƣờng sao chép lí luận ở đâu đó rồi nhồi cho ngƣời học, vì học nhƣ vậy là kiểu học sách vở. Nên theo con đƣờng có một lí luận hƣớng dẫn ban đầu rồi bắt tay hoạt động thực tiễn, dùng thực tiễn này mà củng cố lí luận, kế 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thừa có phê phán lí luận của ngƣời khác, rồi lại hoạt động thực tiễn, cứ thế theo mối quan hệ qua lại giữa lí luận và thực tiễn mà đi lên.
Nguyên lý giáo dục và định hướng tăng cường liên hệ với thực tiễn trong quá trình dạy học môn toán 1. Nguyên lý giáo dục Luật Giáo dục Việt Nam (2005) đã xác định: “Hoạt động giáo dục phải được thực hiện theo nguyên lý học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, lí luận gắn liền với thực tiễn, giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội”. Định hướng tăng cường liên hệ với thực tiễn trong dạy học môn Toán Toán học là môn học có tính trừu tƣợng cao. Tuy nhiên, Toán học có nguồn gốc thực tiễn nên tính trừu tƣợng chỉ che lấp chứ không hề làm mất đi tính thực tiễn của nó.
Với vai trò là môn học công cụ nên các tri thức, kĩ năng và phƣơng pháp làm việc của môn Toán đƣợc sử dụng cho việc học tập các môn học khác trong nhà trƣờng, trong nhiều ngành khoa học khác nhau và trong đời sống thực tế. Chẳng hạn: Công thức tính thể tích khối trụ đƣợc dùng đê tính thể tích của một khối nƣớc, pit tông, thùng dầu… trong đời sống. Nhƣng nó cũng có thể tính của của một chất nào đó cần dùng trong hóa học. Do vậy, có thể nói rằng môn Toán có nhiều liên hệ thực tiễn trong dạy học.
Trong sách Phƣơng pháp dạy học bộ môn toán [13, tr 71] thì liên hệ với thực tiễn trong quá trình dạy học toán là một trong ba hƣớng thực hiện nguyên lý giáo dục nói trên. Cụ thể là cần liên hệ với thực tiễn qua các mặt sau: a) Nguồn gốc thực tiễn của Toán học: nhƣ hình học xuất hiện do nhu cầu đo đạc lại ruộng đất sau những trận lụt trên bờ sống Nil (Ai Cập) … b) Sự phản ánh thực tiễn của Toán học: Với cách chứng minh thuận, đảo thì trong cuộc sống ta thƣờng khuyên nhau “nghĩ đi rồi nghĩ lại” ; “ có qua có lại” ; “sống phải có trước có sau” ; … 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com c) Các ứng dụng thực tiễn của Toán học: Xuất phát từ việc tính thể tích của khối nƣớc, thể tích của quả cầu, quả bóng…. Cần đƣa ra một công thức tính chung. Muốn vậy, cần quan tâm tăng cƣờng cho HS tiếp cận với những bài toán có nội dung thực tiễn trong khi học lí thuyết cũng nhƣ làm bài tập.
- Trong nội bộ môn Toán, cần cho HS làm toán có nội dung thực tiễn nhƣ tính diện tích, thể tích của một khối vật nào đó mà công thức có trong hình học 12 ; so sánh vị trí của các hình với nhau khi biết tỉ số khoảng cách… - Cần cho HS vận dụng những tri thức và phƣơng pháp Toán học vào những môn học trong nhà trƣờng. Chẳng hạn: + Tính thể tích của khối vật nào đó từ đó suy ra thể tích cần dùng một vật nào đó trong hóa học, kỹ thuật… + Tính diện tích của một mặt cầu, mặt trụ. nguyên vật liệu cần làm có hình dạng tƣơng tự trong kĩ thuật. - Tổ chức những hoạt động thực hành toán học trong và ngoài nhà trƣờng kể cả những hoạt động có tính chất tập dƣợt nghiên cứu bao gồm khâu đặt bài toán, xây dựng mô hình, thu thập dữ liệu, xử lí mô hình để tìm lời giải, đối chiếu lời giải với thực tế để kiểm tra và điều chỉnh.
Chẳng hạn: + Tổ chức các cuộc thi tính thể tích khối vật thể mà mình cho trƣớc, hình dung khi dùng một mặt cắt của một đồ vật cho sẵn thì nó có hình gì (hình của thiết diện)… + Hoạt động ngoại khóa (tham quan nơi làm gốm sứ,.