mở đầu cho việc thủ tiêu chế độ người bóc lột người, thủ tiêu nạn áp bức dân tộc, và bằng chính sách dân tộc đúng đắn. Áp dụng vào điều kiện lịch sử Việt Nam, tư tưởng Hồ Chủ Minh thể hiện rõ hơn hai vấn đề: Thứ nhất: cần phải có một chính đảng của giai cấp vô sản để giải phóng dân tộc và giải phóng con người. Đến với chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tìm thấy ở học thuyết này con đường cứu dân, cứu nước. Bác khẳng định: "Chỉ có chủ nghĩa cộng sản mới cứu nhân loại, đem lại cho mọi người không phân biệt chủng tộc và nguồn gốc sự tự do, bình đẳng, bác ái, đoàn kết, ấm no trên quả đất, việc làm cho mọi người và vì mọi người, niềm vui, hòa bình, hạnh phúc" [22, tr.
Người nói: Lúc đầu chính là chủ nghĩa yêu nước, chứ không phải là chủ nghĩa cộng sản đưa tôi tin theo Lê-nin, tin theo Quốc tế III. Từng bước một trong cuộc đấu tranh, vừa làm công tác thực tế, dần dần tôi hiểu được rằng chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ [25, tr. Người cho thấy sự cần thiết phải có Đảng lãnh đạo - nhân tố quyết định thắng lợi của sự nghiệp cách mạng. Người khẳng định: "Muốn thắng lợi, thì cách mạng phải có một đảng lãnh đạo.
Đảng phải làm cho quần chúng giác ngộ vì đâu mà họ bị áp bức bóc lột; phải dạy cho quần chúng hiểu các quy luật phát triển của xã hội, để họ nhận rõ vì mục đích gì mà đấu tranh; chỉ rõ con đường giải phóng cho quần chúng, cổ động cho quần chúng kiên quyết cách mạng; làm cho quần chúng tin chắc cách mạng nhất định thắng lợi [24, tr. 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Bởi vì theo Người: cách mạng là sự nghiệp chung của toàn thể dân chúng. Song, sức mạnh đó chỉ có được khi dân chúng được thức tỉnh, giác ngộ và tổ chức, lãnh đạo. Đảng chính là người có nhiệm vụ thức tỉnh, lãnh đạo nhân dân đứng lên làm cách mạng.
Thứ hai: Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và dân tộc Việt Nam. Phát biểu tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng (1951), Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: "Trong giai đoạn hiện nay, quyền lợi của giai cấp công nhân và nhân dân lao động và của dân tộc là một. Chính vì Đảng Lao động Việt Nam là Đảng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, cho nên nó phải là Đảng của dân tộc Việt Nam" [23, tr. Bản chất của Đảng ta là bản chất giai cấp công nhân nhưng Người quan niệm rằng, Đảng không những là Đảng của giai cấp công nhân mà còn của nhân dân lao động và của toàn dân tộc.
Trong thành phần đảng viên, ngoài thành phần giai cấp công nhân còn có các thành phần khác, đó là những người ưu tú trong giai cấp nông dân, đội ngũ trí thức và các thành phần khác. Đường lối chính trị của Đảng phản ánh lập trường của giai cấp công nhân, hướng tới thực hiện mục tiêu, lý tưởng của giai cấp công nhân. Đảng Cộng sản Việt Nam trước hết đại biểu cho lợi ích của giai cấp công nhân. Song, vì sự thống nhất giữa lợi ích giai cấp công nhân và nhân dân lao động và toàn thể dân tộc, vì vậy, Đảng Cộng sản Việt Nam đại biểu cho lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và toàn thể dân tộc.
Hồ Chí Minh đã khẳng định: ngoài lợi ích của giai cấp, của nhân dân, của dân tộc, Đảng ta không có lợi ích nào khác. Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, vấn đề giai cấp và vấn đề dân tộc luôn gắn bó chặt chẽ, không tách rời nhau. Mọi hoạt động cách mạng của Đảng đều đồng thời giải quyết cả vấn đề giai cấp và vấn đề dân tộc. Vì vậy, Đảng không chỉ là Đảng của giai cấp công nhân mà còn là Đảng của nhân dân lao động và của cả dân tộc Việt Nam.
16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản đối với cách mạng Việt Nam Từ khi được thành lập - năm 1930 cho đến nay đã hơn 8 thập kỷ, với vai trò là đội tiên phong, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo sự nghiệp cách mạng của dân tộc ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác: đánh đổ chế độ thực dân 80 năm của Pháp, hàng ngàn năm của chế độ phong kiến, đánh bại các cuộc xâm lăng của các cường quốc, lập ra nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đến nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện công cuộc xây dựng, đổi mới và hội nhập thành công. Nhìn lại những bước đường phấn đấu đầy gian khổ hy sinh đã qua và những thắng lợi, thành tựu vẻ vang đã giành được của toàn dân ta, chúng ta có thể tự hào về vai trò lịch sử của Đảng ta, người lãnh đạo và tổ chức mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Sức mạnh vô địch của Đảng chính là ở chỗ Đảng ta tuyệt đối trung thành với lợi ích của nhân dân, đứng vững trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, phát huy được sức mạnh lòng yêu nước của toàn dân tộc.
Vai trò lãnh đạo của Đảng không những được kiểm chứng bởi lịch sử đấu tranh bảo vệ và xây dựng tổ quốc của dân tộc mà còn được đạo luật cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Hiến pháp ghi nhận. Trong Hiến pháp năm 1946, mặc dù không có một điều khoản riêng quy định về sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và hệ thống chính trị, nhưng thông qua chế định Chủ tịch nước và với vị trí, vai trò đặc biệt của Chủ tịch nước đầu tiên - Hồ Chí Minh - người sáng lập ra Đảng Cộng sản, thì các quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng đã được tổ chức và thực hiện thắng lợi. Hiến pháp năm 1959 để thể hiện quyền lãnh đạo của Đảng Cộng sản đối với Nhà nước và hệ thống chính trị trong "Lời nói đầu" của Hiến pháp. Hiến pháp năm 1980 đã thể chế hóa vai trò lãnh đạo của Đảng một cách cụ thể trong cả "Lời nói đầu" và Điều 4 của Hiến pháp.
Lần đầu tiên, thuật ngữ mới "Hiến pháp thể chế hóa đường lối của Đảng" được sử dụng. Hiến pháp năm 1992, được sửa đổi, bổ sung năm 2001 đã thể hiện ngắn gọn chặt chẽ và đầy đủ hơn vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và hệ thống chính trị: 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Đảng Cộng sản Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, đại biểu trung thành quyền lợi của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, theo chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, là lực lượng lãnh đạo nhà nước và xã hội. Mọi tổ chức của Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật [32, Điều 4]. Nội dung sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và toàn xã hội đã được Đại hội lần thứ VI của Đảng đề ra một cách cụ thể và các Đại hội lần thứ VII, VIII, IX, X, XI tiếp tục khẳng định và phát triển, bao gồm những mặt cơ bản sau: Đảng đề ra đường lối chủ trương, chính sách lớn định hướng cho sự phát triển của toàn xã hội trong từng thời kỳ phát triển của đất nước trên tất cả các lĩnh vực.
Đảng vạch ra phương hướng và nguyên tắc cơ bản làm cơ sở cho việc xây dựng và hoàn thiện Nhà nước, củng cố và phát triển hệ thống chính trị, thiết lập chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa, phát huy quyền làm chủ của nhân dân. Đảng đề ra những quan điểm và chính sách về công tác cán bộ; phát hiện, lựa chọn, bồi dưỡng những đảng viên ưu tú và những người ngoài đảng có phẩm chất và năng lực giới thiệu vào các cơ quan nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội thông qua cơ chế bầu cử, tuyển chọn để bố trí vào làm việc trong cơ quan nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội. Đảng thực hiện sự lãnh đạo của mình thông qua các đảng viên và tổ chức Đảng bằng cách giáo dục đảng viên nêu cao vai trò tiên phong, gương mẫu, qua đó tập hợp, giáo dục, động viên quần chúng tham gia quản lý nhà nước, xã hội, ủng hộ và tích cực thực hiện đường lối, chính sách của Đảng, tôn trọng và thực hiện nghiêm chỉnh pháp luật của Nhà nước. Đảng thực hiện công tác kiểm tra việc chấp hành và tổ chức thực hiện đường lối chính sách, nghị quyết của Đảng đối với các đảng viên, các tổ chức 18 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Đảng, cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội.
Phát hiện và uốn nắn kịp thời những sai lầm lệch lạc. Đồng thời, Đảng tiến hành tổng kết thực tiễn, rút kinh nghiệm để không ngừng bổ sung và hoàn thiện các đường lối, chính sách trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Về thực chất, Đảng là tổ chức chính trị, phương pháp lãnh đạo của Đảng không phải là phương pháp hành chính - mệnh lệnh. Phương thức lãnh đạo của Đảng là giáo dục, thuyết phục và nêu gương.
Sự lãnh đạo của Đảng mang tính định hướng, tạo điều kiện cho Nhà nước và hệ thống chính trị có cơ sở để chủ động sáng tạo trong tổ chức và hoạt động. So với các đảng chính trị cầm quyền trong các nhà nước khác, vị trí, vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam có những đặc trưng riêng: Quyền lãnh đạo của Đảng được ghi nhận trong Hiến pháp; cơ sở chính trị xã hội của Đảng rất rộng rãi, sự lãnh đạo của Đảng được tất cả các tổ chức chính trị xã hội thừa nhận; Đảng là đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân lao động và của cả dân tộc… Vì vậy, những chủ trương và quan điểm lớn của Đảng được mọi tầng lớp nhân dân quan tâm, tham gia ý kiến, tích cực ủng hộ và tổ chức thực hiện trên thực tế. Như vậy, lịch sử cách mạng Việt Nam hơn 80 năm qua khẳng định không thể tách rời sự lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống chính trị. Không có hệ thống chính trị nào mà không có sự lãnh đạo, không có một chính đảng, một lực lượng chính trị chi phối.