CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỂM SOÁT THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG 1. TỔNG QUAN VỀ THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG 1. Khái niệm Một số nội dung cơ bản của Luật thuế GTGT số 13/2008/QH12 ngày 03 tháng 6 năm 2008 của Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam: Luật Thuế GTGT đã được Quốc hội khoá IX thông qua tại kỳ họp thứ 11 (họp từ ngày 02/4-10/5/1997), Chủ tịch nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam công bố theo Lệnh số: 57 L/CTN ngày 22/05/1997 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/1999. Thuế GTGT là loại Thuế mới, lần đầu tiên đưa vào áp dụng tại Việt Nam, trong đó có những nội dung quy định khác với Luật Thuế Doanh thu và cũng không hoàn toàn giống như thuế GTGT của các nước khác.
Chính vì vậy, cần thiết phải tuyên truyền, giải thích, hướng dẫn một cách sâu rộng, dưới nhiều hình thức để giúp mọi người hiểu rõ và làm đúng. Mặt khác, việc chuyển từ Thuế Doanh thu sang Thuế GTGT không chỉ đơn thuần là sự thay đổi về kỹ thuật nghiệp vụ, mà là sự thay đổi cơ bản về nội dung của chính sách và biện pháp tổ chức quản lý thuế, nhằm làm cho chính sách thuế phù hợp, góp phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, thích ứng với yêu cầu hội nhập trong khu vực và quốc tế. Thuế giá trị gia tăng, viết tắt theo tiếng Anh VAT (Value Added Tax) là một loại thuế đánh vào việc sử dụng thu nhập có nghĩa là đánh vào sự chi tiêu hoặc tiêu dùng hàng hóa dịch vụ. Thuế này được thu trong tất cả các khâu của quá trình sản xuất, lưu thông và được nộp cho Nhà nước dựa trên cơ sở Luan van 12 giá trị tăng thêm trong mỗi khâu.
Do đó nó có tên là thuế giá trị gia tăng. Thuế là một yếu tố khách quan đối với mọi Nhà nước. Thuế ra đời và tồn tại cùng với sự ra đời và tồn tại của Nhà nước. Tùy thuộc vào bản chất của Nhà nước, có các quan điểm khác nhau về thuế.
Thuế là giá trị của những dịch vụ mà mỗi cá nhân có thể hưởng do chính phủ cấp. Nộp thuế trở thành một bổn phận của công dân đối với Nhà nước, mọi người góp vào chi tiêu công cộng theo khả năng của mình và sự đóng góp đó có tính cưỡng bách. Thuế là một khoản đóng góp bằng tiền mà chính quyền đòi hỏi các tư nhân đóng góp vĩnh viễn để tài trợ các gánh nặng công cộng “hoặc” Thuế là sự đóng góp cưỡng bách của mỗi người cho Chính phủ để trang trải các chi phí và quyền lợi chung, không căn cứ vào lợi ích riêng được hưởng. Thuế là một phần thu nhập mà mỗi tổ chức, cá nhân có nghĩa vụ đóng góp cho Nhà nước; Người nộp thuế được hưởng hợp pháp phần thu nhập còn lại; Thuế là một khoản nộp bắt buộc mà các thể nhân và pháp nhân có nghĩa vụ phải thực hiện đối với Nhà nước, phát sinh trên cơ sở các văn bản pháp luật do Nhà nước ban hành, không mang tính chất đối giá và hoàn trả trực tiếp cho Người nộp thuế.
Thuế là một hiện tượng xã hội do chính con người định ra và nó gắn liền với phạm trù Nhà nước và pháp luật. Một hệ thống chính sách thuế bao gồm nhiều sắc thuế khác nhau, mỗi một sắc thuế có một mục tiêu, tác dụng và chức năng riêng. Vì vậy người ta phải sử dụng nhiều sắc thuế để bổ sung, hỗ trợ cho nhau đảm bảo phát huy mạnh mẽ hiệu quả của toàn bộ hệ thống thuế. Một sắc thuế bao giờ cũng được cấu thành bởi các yếu tố cơ bản là: tên gọi, đối tượng chịu thuế, đối tượng nộp thuế, thuế suất, chế độ ưu đãi miễn Luan van 13 giảm, các quy định về thủ tục nộp thuế và tổ chức thực hiện.
Mỗi loại thuế trên đều có những ưu điểm và đồng thời cũng có những nhược điểm nhất định. Tùy theo đặc điểm, tình hình kinh tế - xã hội, phong tục tập quán. mà mỗi quốc gia hoạch định và ban hành một hệ thống chính sách thuế phù hợp, nhằm vào một số mục tiêu chính là phải sử dụng hợp lý và có hiệu quả cao công cụ thuế để đáp ứng nhu cầu chi của ngân sách Nhà nước và góp phần thực hiện các nhiệm vụ chính trị - kinh tế - xã hội mà mỗi quốc gia đề ra. Thuế GTGT là một trong những sắc thuế nằm trong hệ thống thuế ở nước ta hiện nay, nó mang bản chất chung của thuế là lệ thuộc vào bản chất của Nhà nước, nhằm mục đích: Tạo ra nguồn thu ổn định của NSNN để Nhà nước thực hiện chức năng, nhiệm vụ, mục tiêu của mình.
Thuế không chỉ để có nguồn thu, mà còn là công cụ của Nhà nước điều chỉnh, can thiệp vào kinh tế - xã hội, điều tiết kinh tế - xã hội, thúc đẩy sản xuất kinh doanh, khuyến khích cạnh tranh lành mạnh, đúng hướng. Theo quy định của Luật thuế giá trị gia tăng thì thuế giá trị gia tăng là một loại thuế gián thu đánh trên khoản giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng. Đây là một loại thuế doanh thu đánh vào mỗi giai đoạn sản xuất, lưu thông sản phẩm hàng hóa, từ khi còn là nguyên liệu thô sơ cho đến sản phẩm hoàn thành, và cuối cùng là giai đoạn tiêu dùng. Chính vì vậy mà chúng ta còn gọi là thuế doanh thu có khấu trừ số thuế đã nộp ở giai đoạn trước.
Thuế giá trị gia tăng được cộng vào giá bán hàng hóa, dịch vụ, và do người tiêu dùng chịu khi mua hàng hóa, sử dụng dịch vụ. Thuế suất hiện nay qui định: ngoài những hàng hóa không chịu thuế GTGT, còn lại là các mức 0%, 5%,10%. Có hai phương pháp tính thuế GTGT: Luan van 14 + Phương pháp khấu trừ. + Phương pháp trực tiếp trên thuế GTGT.
Đặc điểm Trong mỗi khâu tiêu thụ hàng hóa, VAT đều được tính trên giá trị bán ra. Tính VAT phải nộp ở giai đoạn sau đều được trừ VAT đã nộp ở giai đoạn trước nên không gây ra hiện tượng trùng lắp.Cũng vì đặc trưng này nên người ta còn gọi VAT là loại thuế doanh thu có khấu trừ. Kết quả thu thuế ở mỗi khâu đều kiểm tra được việc tính và thu thuế ở khâu trước. Hiệu quả của VAT không phụ thuộc vào việc tổ chức và sự phân chia các chu trình kinh tế, cho dù sản phẩm có trải qua bao nhiêu giai đoạn sản xuất và lưu thông hàng hóa và do đó nó có ảnh hưởng tích cực đến các hoạt động sản xuất kinh doanh.
VAT có phạm vi thu rất rộng, đối tượng thu toàn bộ các hoạt động sản xuất kinh doanh kể cả gia công, chế biến và dịch vụ có thu tiền, nó thu vào các sản phẩm, dịch vụ tiêu thụ trong nước, kể cả hàng hóa nhập khẩu.Tuy nhiên, một số ít hoạt động kinh doanh cũng được miễn VAT, và số hoạt động miễn thuế này thay đổi tùy thuộc vào mỗi nước. Ngân hàng, bảo hiểm, bưu điện, dịch vụ y tế, báo chí, sản phẩm và dịch vụ do chính phủ sử dụng….thường được miễn VAT. Thông thường hàng hóa, dịch vụ dùng cho mục đích xuất khẩu không bị đánh thuế, nhưng theo nguyên tắc các nhà xuất khẩu không bị đánh thuế, nhưng theo nguyên tắc các nhà xuất khẩu đã trả VAT trên các sản phẩm và dịch vụ trung gian phải chịu thuế, do đó các nhà xuất khẩu sẽ được cơ quan thuế hoàn trả lại. Mức VAT thường được xây dựng căn cứ vào công dụng vật chất của sản phẩm không phân biệt người mua và dùng vào mục đích gì.
Thuế này thường chiếm tỷ trọng lớn ( khoảng 20-30%) trong tổng số thu của ngân sách, Luan van 15 xấp xỉ 5-10% tổng sản phẩm xã hội. Chính vì vậy nó được coi trọng tổng thể hệ thống thuế. GTGT là một thứ thuế được quan niệm như nguồn thu trung lập, hữu hiệu, chứ không phải để nhằm điều chỉnh những sự chênh lệch về thu nhập hay tài sản như thuế thu nhập, thuế tài sản. Vì vậy, VAT thường có ít thuế suất, bảo đảm sự đơn giản rõ ràng.
Trung lập là vì trừ một số trường hợp rất hạn hữu, VAT không gây nên sự rối loạn. Thuế GTGT là một loại thuế gián thu đánh vào đối tượng tiêu dùng hàng hoá, dịch vụ chịu thuế GTGT (vì vậy thuế GTGT là một loại thuế tiêu dùng, đối với cơ sở kinh doanh thì đây là loại thuế gián thu), là một yếu tố cấu thành trong giá cả hàng hoá và dịch vụ, là khoản thu được cộng thêm vào giá bán của người cung cấp, hay nói cách khác giá cả hàng hoá, dịch vụ mà người tiêu dùng mua bao gồm cả thuế GTGT. Tính gián thu của thuế GTGT biểu hiện: người mua hàng hoá, dịch vụ là người phải trả khoản thuế này thông qua giá mua của hàng hoá, dịch vụ. Như vậy, người mua không trực tiếp nộp thuế GTGT vào NSNN mà trả thuế thông qua giá thanh toán hàng hoá và dịch vụ cho người bán, trong đó bao gồm cả khoản thuế GTGT mà người mua trả.
Người bán thực hiện nộp khoản thuế GTGT phải nộp “đã được người mua trả” vào NSNN. Thuế GTGT đánh vào giá trị gia tăng của hàng hoá, dịch vụ phát sinh ở các giai đoạn từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng hàng hoá, dịch vụ đó. Tổng số thuế GTGT thu được ở tất cả các giai đoạn sẽ bằng số thuế GTGT tính trên giá bán cho người tiêu dùng cuối cùng. Như vậy, về nguyên tắc chỉ cần thu thuế ở khâu bán hàng cuối cùng.
Tuy nhiên, trên thực tế khó xác định được đâu là khâu bán hàng cuối cùng, đâu là khâu bán hàng trung gian. Do vậy cứ có hành vi mua hàng là phải tính thuế. Số thuế GTGT ở khâu trước sẽ được tự động chuyển vào giá bán hàng ở khâu sau Luan van 16 và người tiêu dùng cuối cùng là người phải trả toàn bộ số thuế GTGT đánh trên hàng hoá đó. Tổng số thuế người tiêu dùng cuối cùng phải trả bằng tổng số thuế phát sinh qua từng giai đoạn của quá trình sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ.
Thuế GTGT là một loại thuế có tính trung lập cao. Tính trung lập biểu hiện ở hai khía cạnh: Thứ nhất, thuế GTGT không chịu ảnh hưởng bởi kết quả kinh doanh của người nộp thuế, do người nộp thuế chỉ là người “thay mặt” người tiêu dùng nộp hộ khoản thuế này vào NSNN.