Chương 1: Các van đề cơ bản về huy động vốn của ngân hàng thương mại. Chương 2: Thực trạng huy động vốn tại Ngân hàng TMCP Quân Đội — Chi nhánh Trần Hưng Dao. Chương 3: Giải pháp tăng cường huy động vốn tại Ngân hàng TMCP Quân Đội — Chi nhánh Trần Hưng Dao. Trong chuyên đề của em do kinh nghiệm thực tế còn hạn chế khó tránh khỏi sai sót, rất mong có sự bổ sung, góp ý hướng dan của các thầy giáo TS.
Trần Tất Thành và các cô chú trong cơ sở nơi em thực tập. CHUONG 1 CAC VAN DE CƠ BAN VE HUY ĐỘNG VON CUA NGAN HANG THUONG MAI 1. Hoạt động huy động vốn của ngân hàng thương mai LLL. Nein hang thiiong mal va CÁC hod dong co bin ctta nein hang thitong mal 1.
Khái niệm ngân hàng thương mại Có nhiêu các khái niệm khác nhau về ngân hàng thương mại, tùy thuộc vào pháp luật và tập quán của các ngân hàng tại nước đó, ví dụ như: Ở Mi: “ Ngân hàng thương mại là công ty kinh doanh tiền tệ, chuyên cung cấp dịch vụ tài chính và hoạt động trong ngành công nghiệp dịch vụ tài chính.” Ở Pháp: “Ngân hàng thương mại là những xí nghiệp hay cơ sở mà nghề nghiệp thường xuyên là nhận tiên bạc của công chúng dưới hình thức kỷ thác, hoặc dưới các hình thức khác và su dụng tài nguyên đó cho chính ho trong các nghiệp vu về chiết khẩu, tín dụng và tài chính”. Ở Việt Nam, theo Luật tổ chức tín dụng năm 2017 khoản 1 và khoản 7 Điều 20 đã xác định "t6 chức tín dụng là doanh nghiệp hoạt động kinh doanh tiền tệ, làm dich vụ ngân hàng với nội dung nhận tiên gửi và sử dụng tiền gửi dé cấp tin dung, cung cấp các dịch vụ thanh toán" và trong các loại hình tổ chức tín dụng thì "ngân hang là một tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tién gửi của khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiễn đó để cho vay, thực hiện các nghiệp vụ chiết khẩu và làm phương tiện thanh toán". Với định nghĩa trên, đã khái quát toàn bộ những đặc trưng của ngân hàng thương mại tuy nhiên cũng cần nhân mạnh thêm trong khái niệm răng: “Ngdn hàng thương mại là một trong những định chế tài chính mà đặc trưng là cung cấp da dạng các dịch vụ tài chính với nghiệp vụ cơ bản là nhận tiễn gửi, cho vay và cung ứng các dịch vụ thanh toán. Ngoài ra, NHTM còn cung cấp nhiều dịch vụ khác nham thoả mãn tôi da nhu câu về sản phâm dịch vụ của xã hội ” Phân loại ngân hàng thương mại: Trên thế giới các ngân hàng thương mại hoạt động với chức năng, nghiệp vụ khá giống nhau, đó là việc: nhận tiền gửi ký thác, tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn dé sử dụng vào các nghiệp vụ cho vay, chiết khấu và các nghiệp vụ kinh doanh khác của chính ngân hang.
Dé phân loại các Ngân hàng thương mại ta có thé dựa trên các tiêu chí sau: * Căn cứ vào hình thức sở hữu: Các Ngân hàng thương mại được phân thành: - Ngân hàng sở hữu tư nhân: Là ngân hàng được thành lập bằng vốn của một cá nhân. Đây là các ngân hàng nhỏ, thường chỉ hoạt động trong phạm vi một địa phương với đối tượng phục vụ chủ yếu là những người trong địa phương. - Ngân hàng sở hữu của các cô đông: Là ngân hàng được hình thành từ nguôồn vốn thông qua tập trung phát hành cô phiếu. Những người năm giữ cổ phiếu này chính là những người chủ của ngân hàng.
Họ có quyền tham gia vào các hoạt động của ngân hang và được chia lãi cé tức. Do huy động từ nhiều người nên các ngân hang này có vốn chủ sở hữu lớn, có các hình thức kinh doanh da dạng. - Ngân hàng sở hữu nhà nước: Là loại hình ngân hàng có vốn chủ sở hữu thuộc về Nhà nước. Đây là loại hình ngân hàng có thể nói là an toàn nhất, rất ít khi bị phá sản.
Tuy nhiên, các ngân hàng này nhiều khi phải thực hiện những nhiệm vụ nha nước giao, ảnh hưởng tới hoạt động kinh doanh của ngân hang. * Căn cứ theo tính chất hoạt động: - Ngân hàng chuyên doanh và ngân hàng đa năng. Ngân hàng chuyên doanh là ngân hàng hoạt động theo hướng chuyên doanh, thường chỉ cung cấp một số dịch vụ ngân hàng nhất định. Ngân hàng đa năng là ngân hàng cung cấp mọi dịch vụ ngân hàng.
Đây là xu hướng chủ yếu hiện nay của các ngân hàng thương mại. - Ngân hàng bán buôn và ngân hàng bán lẻ. Ngân hàng bán buôn là loại hình ngân hàng mà hoạt động của nó chủ yếu thực hiện đối với các khách hàng lớn. Số lượng các giao dịch của ngân hàng bán buôn nhỏ song về giá trị một dịch vụ lại lớn.
Ngân hàng bán lẻ là loại hình ngân hàng mà hoạt động chủ yếu của nó thực hiện đối với các khách hàng là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, khách hàng cá nhân. Số lượng các giao dịch của ngân hàng bán lẻ lớn song giá trị một giao dịch thường nhỏ. * Căn cứ theo cơ câu tô chức: Ngân hàng sở hữu công ty và ngân hàng không sở hữu công ty. Sự phân chia nay là do pháp luật ở nhiều nước cam không cho ngân hang trực tiếp tham gia vào một số hoạt động kinh doanh như: buôn bán chứng khoán, bat động sản.
nên các ngân hàng tô chức ra các công ty riêng, có tư cách pháp nhân dé kinh doanh. Các hoạt động cơ bản của ngân hàng thương mại Ngân hàng thương mại có các hoạt động chủ yếu như sau: * Hoạt động huy động vốn Đây là hoạt động cơ bản đầu tiên và quan trọng của một Ngân hàng thương mại. Có rất nhiều hình thức huy động vốn trên thị trường, một trong các nguồn vốn huy động quan trọng nhất là các khoản tiền gửi. Ngân hàng thương mại nhận được các khoản tiền gửi từ khách hàng dưới các hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm và các hình thức khác, Ngân hàng thương mại nhận tiền gửi của các cá nhân, của các tô chức kinh tế và Ngân hàng phải hoàn trả gốc và lãi cho khách hàng khi đến hạn hoặc khi khách hàng có nhu cầu sử dụng là đến rút tiền ở Ngân hàng.
Qua hoạt động này Ngân hàng thương mại đã thu hút một lượng lớn tiền tạm thời nhàn rỗi để phục vụ cho các hoạt động của mình như hoạt động cho vay và thông qua đó cung cấp phương tiện thanh toán cho nền kinh tế. * Hoạt động cho vay và dau tu Trên cơ sở số lượng vốn huy động được, Ngân hàng thương mại thực hiện các hoạt động tín dụng như cho vay, bảo lãnh, mở LC,.va đầu tư Hoạt động cho vay và đầu tư là hoạt động kinh doanh chính, chiếm tỷ trọng lớn nhất ở phần lớn các Ngân hàng thương mại, phản ánh hoạt động đặc trưng của ngân hàng. Trong nghiệp vụ này, Ngân hàng thương mại thỏa thuận để khách hàng sử dụng một khoản tiền với nguyên tắc có hoàn trả bằng các nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, bảo lãnh và các nghiệp vụ khác. * Cung cấp các địch vụ tài chính khác - Hoạt động kinh doanh liên quan đến ngoại té: Thực hiện nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ là việc ngân hàng thương mại tham gia kinh doanh ngoại tệ trên thị trường hối đoái với tư cách kinh doanh cho khách hàng (ngân hàng hưởng phí dịch vụ) và kinh doanh cho chính bản thân ngân hàng thương mại.
Ngân hàng thương mại tiến hành mua bán ngoại tệ trên thị trường giao ngay hay thực hiện các giao dịch mua bán kỳ hạn các loại ngoại tệ và hưởng phí dịch vụ, hoạt động kinh doanh ngoại tệ thường gặp phải rủi ro hối đoái, là tình trạng có thé bị tôn thất vốn do biến động tỷ giá. Dé hạn chế rủi ro, các ngân hàng thương mai thường đưa ra các giải pháp nghiệp vụ như hợp đồng kỳ hạn, hợp đồng tương lai, hợp đồng hoán đổi, hợp đồng quyền chọn, hợp đồng bảo đảm,. Thực hiện nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ là việc ngân hàng thương mại tham gia kinh doanh ngoại tệ trên thị trường hối đoái với tư cách kinh doanh cho khách hàng (ngân hàng hưởng phí dịch vụ) và kinh doanh cho chính bản thân ngân hàng. - Cung cấp các tài khoản giao dịch và thực hiện thanh toán: Ngân hàng thương mại thực hiện việc cung cấp các tài khoản giao dịch và thực hiện thanh toán theo yêu cầu của cá nhân và doanh nghiệp.
Thanh toán qua ngân hàng với những lợi ích như an toàn, nhanh chóng, tiết kiệm chi phí đã góp phan rút ngắn thời gian kinh doanh và nâng cao thu nhập cho khách hàng. Điều này khuyến khích các khách hàng gửi tiền vào ngân hàng dé nhờ ngân hàng thanh toán. Đồng thời ngân hàng cũng thu được phí từ hoạt động này. Ngoài ra, Ngân hàng thương mại còn thực hiện cung cấp dịch vụ ủy thác và tư vấn, cung cấp dịch vụ môi giới đầu tư chứng khoán, cung cấp dịch vụ bảo hiểm, dịch vụ đại lý,.
LL2 Khit niém, muc tiéu, nguyén tic va vat frò hoat dong huy dong von cia ngin hang 01/0146 mat 1. Khái niệm về von huy động và hoạt động huy động vốn - Vốn huy động: Là những giá trị tiền tệ mà ngân hàng huy động được từ các tô chức kinh tế và cá nhân trong xã hội, thông qua việc thực hiện các nghiệp vụ thanh toán, nghiệp vụ kinh doanh khác và được dùng làm vốn dé kinh doanh. Vốn huy động là tài sản thuộc các chủ sở hữu khác nhau, ngân hàng chỉ có quyền sử dụng chứ không có quyền sở hữu và có trách nhiệm hoàn trả đúng thời hạn cả gốc và lãi khi đến hạn hoặc khi họ có nhu cầu rút. Vốn huy động đóng vai trò rất quan trọng đối với mọi hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mai.
Vốn huy động không ngừng tăng lên, các ngân hàng luôn quan tâm khai thác dé mở rộng nguồn huy động. Nhưng nguồn vốn này chỉ được sử dụng một phan dé kinh doanh, còn phải dự trữ một tỷ lệ hợp lý dé đảm bảo khả năng thanh toán. Vốn huy động gồm có: Vốn tiền gửi và phát hành giấy tờ có giá. - Hoạt động huy động vốn: Xuất hiện khá lâu đời và không ngừng phát triển, thay đổi cùng với sự phát triển của các ngân hàng thương mại, nội hàm của khái niệm hoạt động huy động vốn đã có những thay đổi rat đáng ké, cả về quy mô va các hình thức thé hiện.