phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung chính của luận văn được kết cấu như sau: Chƣơng 1. Các trường hợp tạm ngừng phiên tòa trong tố tụng hình sự Chƣơng 2. Thủ tục, thời hạn tạm ngừng phiên tòa trong tố tụng hình sự 6 CHƢƠNG 1 CÁC TRƢỜNG HỢP TẠM NGỪNG PHIÊN TÒA TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ 1. Nhận thức khái quát và quy định của pháp luật tố tụng hình sự về các trƣờng hợp tạm ngừng phiên tòa 1.
Nhận thức khái quát về các trường hợp tạm ngừng phiên tòa trong tố tụng hình sự Trước khi tìm hiểu về các trường hợp tạm ngừng phiên tòa, chúng ta cần có những nhận thức cơ bản về tạm ngừng phiên tòa nói chung trong tố tụng hình sự. Quy định việc tạm ngừng phiên tòa trong tố tụng hình sự được xem là một trong những điểm mới của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Một trong những mục đích của việc bổ sung quy định về tạm ngừng phiên tòa là nhằm góp phần hạn chế các trường hợp hoãn phiên tòa không cần thiết dẫn đến việc kéo dài quá trình xét xử; qua đó góp phần bảo đảm thực hiện nguyên tắc “Tòa án xét xử kịp thời” – một trong 5 những nguyên tắc cơ bản của luật tố tụng hình sự Việt Nam. Trên cơ sở những quy định có liên quan của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, có thể hiểu tạm ngừng phiên tòa trong tố tụng hình sự là việc Tòa án có thẩm quyền quyết định tạm thời dừng lại phiên tòa trong một thời gian ngắn khi có các căn cứ luật định nhằm đảm bảo chất lượng của hoạt động xét xử, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể tham gia tố tụng.
Khi nói đến tạm ngừng phiên tòa thì một trong những vấn đề cốt lõi cần phải nghiên cứu đó là các trường hợp/căn cứ tạm ngừng phiên tòa. Đây là các trường hợp được luật hóa dựa trên thực tiễn xét xử các vụ án hình sự. Những trường hợp này rất đa dạng và khi xuất hiện đã làm cho việc xét xử không thể tiếp tục. Ví dụ khi cần phải xác minh, bổ sung chứng cứ, tài liệu, đồ vật mà không thể thực hiện ngay tại phiên tòa hoặc do tình trạng sức khỏe, sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan mà người có thẩm quyền tiến hành tố tụng hoặc người tham gia tố tụng không thể tiếp tục tham gia phiên tòa nhưng họ có thể tham gia lại trong thời gian ngắn.
Việc quy định rõ ràng, cụ thể các trường hợp tạm ngừng phiên tòa có các ý nghĩa sau: 5 Điều 25 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. 7 Thứ nhất, giúp cho việc tạm ngừng phiên tòa được áp dụng thống nhất trong thực tiễn. Như đã đề cập, các trường hợp/căn cứ tạm ngừng phiên tòa là một nội dung rất quan trọng. Việc Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định chi tiết, cụ thể về những trường hợp này giúp Tòa án tại các địa phương trong cả nước có cơ sở pháp lý vững chắc để quyết định tạm ngừng việc xét xử một cách thống nhất, hạn chế sự tùy tiện trong việc áp dụng.
Qua đó góp phần tạo nên sự công bằng, hợp lý trong quá trình giải quyết các vụ án hình sự. Thứ hai, giúp phân biệt với các trường hợp hoãn phiên tòa. Tạm ngừng phiên tòa với hoãn phiên tòa giống nhau ở đặc điểm là khi tiến hành hoạt động xét xử tại phiên tòa phát sinh các sự kiện pháp lý gây ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án đòi hỏi phải giải quyết xong các sự kiện pháp lý gây ảnh hưởng đó mới có thể xét xử vụ án được. Trước đây khi chưa ghi nhận việc tạm ngừng phiên tòa thì theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự 2003, Hội đồng xét xử sẽ xem xét quyết định hoãn phiên tòa và khi xét xử lại vụ án thì phải thực hiện lại từ đầu.
Điều này gây mất thời gian, trong khi đó chỉ cần tạm ngừng để đợi giải quyết xong các tình huống gây ảnh hưởng tới phiên tòa và sau đó phiên tòa sẽ được tiếp tục mà không phải làm lại các thủ tục tố tụng đã tiến hành. Vì vậy, Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 đã quy định các trường hợp này làm căn cứ tạm ngừng phiên tòa để tránh việc kéo dài phiên tòa không cần thiết. Do tính chất, hệ quả pháp lý của tạm ngừng phiên tòa và hoãn phiên tòa có một số điểm giống nhau nên các trường hợp áp dụng hai chế định này cũng có những điểm tương đồng nhất định. Điều khác biệt thể hiện ở chỗ thời gian cần thiết để xóa bỏ các căn cứ tạm ngừng phiên tòa ngắn hơn hoãn phiên tòa.
Nhận thức được điều này và pháp điển hóa thông qua các quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 giúp Tòa án dễ dàng hơn khi đưa ra lựa chọn hợp lý giữa tạm ngừng phiên tòa và hoãn phiên tòa trong từng trường hợp thực tiễn cụ thể. Quy định của pháp luật tố tụng hình sự về các trường hợp tạm ngừng phiên tòa Theo quy định tại Điều 251 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 thì việc tạm ngừng phiên tòa có thể được áp dụng khi thuộc một trong các trường hợp sau đây: 8 - Trường hợp thứ nhất: Cần phải xác minh, thu thập, bổ sung chứng cứ, tài liệu, đồ vật mà không thể thực hiện ngay tại phiên tòa và có thể thực hiện được trong thời hạn 05 ngày, kể từ ngày tạm ngừng phiên tòa. Chứng cứ là phương tiện dùng để làm sáng tỏ các vấn đề cần phải chứng minh nhằm xác định sự thật của vụ án. Trong quá trình giải quyết vụ án chứng cứ phải được thu thập đầy đủ để giải quyết đúng đắn, khách quan, toàn diện vụ án.
Thu thập chứng cứ là giai đoạn quan trọng của quá trình chứng minh. Đây là tiền đề của quá trình chứng minh, bởi vì quá trình chứng minh trải qua ba giai đoạn thu thập, kiểm tra, đánh giá chứng cứ. Kết quả của hoạt động thu thập chứng cứ sẽ quyết định sự thành bại của toàn bộ quá trình chứng minh. Nếu cơ quan, người có thẩm quyền thu thập đầy đủ chứng cứ thì sẽ đảm bảo việc giải quyết vụ án đúng đắn, nếu việc thu thập chứng cứ không đầy đủ thì sẽ không đủ cơ sở để xác định các vấn đề cần phải chứng minh, dẫn đến cơ quan có thẩm quyền không thể ra các quyết định, bản án để giải quyết vụ án.
Hoạt động thu thập chứng cứ được thực hiện trong các giai đoạn của quá trình tố tụng. Trong giai đoạn khởi tố vụ án các cơ quan có thẩm quyền giải quyết nguồn tin về tội phạm đã tiến hành các hoạt động tố tụng hợp pháp để thu thập chứng cứ nhằm xác định nguồn tin về tội phạm có hay không có dấu hiệu tội phạm. Sau khi khởi tố vụ án, Cơ quan điều tra giữ vai trò quan trọng trong việc thu thập chứng cứ để làm sáng tỏ các vấn đề cần phải chứng minh được quy định tại Điều 85 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Trong giai đoạn truy tố Viện kiểm sát chủ yếu kiểm tra, đánh giá chứng cứ mà Cơ quan điều tra đã thu thập trước đó, trong trường hợp xét thấy còn thiếu chứng cứ để xác định một hoặc số vấn đề cần phải chứng minh tại Điều 85 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 thì Viện kiểm sát sẽ trực tiếp tiến hành một số hoạt động điều tra trong phạm vi thẩm quyền để bổ sung chứng cứ còn thiếu, nếu không bổ sung được thì Viện kiểm sát sẽ trả hồ sơ để Cơ quan điều tra tiến hành điều tra bổ sung chứng cứ còn thiếu.
Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, Thẩm phán được phân công chủ tọa phiên tòa cũng tiến hành nghiên cứu hồ sơ vụ án nếu phát hiện còn thiếu chứng cứ để xác định một hoặc số vấn đề cần phải chứng minh tại Điều 85 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 thì Tòa án sẽ tiến hành một số hoạt động tố tụng được quy định tại Điều 252 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 để bổ sung chứng cứ còn thiếu, nếu không bổ sung được thì Tòa án sẽ trả hồ sơ yêu cầu điều tra bổ sung chứng cứ còn thiếu. 9 Như vậy, việc thu thập chứng cứ, tài liệu, đồ vật để làm sáng tỏ các vấn đề cần phải chứng minh được thực hiện trong các giai đoạn tiền xét xử. Thông thường để hạn chế việc phải tạm ngừng hoặc hoãn phiên tòa vì lý do cần xác minh, bổ sung, thu thập chứng cứ thì Thẩm phán chủ tọa phiên tòa phải làm tốt nhiệm vụ trong giai đoạn chuẩn bị xét xử. Tuy nhiên, vì nhiều nguyên nhân khác nhau việc kiểm tra, đánh giá chứng cứ của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, đặc biệt là Thẩm phán chủ tọa phiên tòa có thể chưa đầy đủ dẫn đến khi mở phiên tòa mới phát hiện một hoặc một số vấn đề cần phải chứng minh chưa được làm sáng tỏ vì thiếu chứng cứ.
Để đảm bảo việc giải quyết đúng đắn, khách quan, toàn diện vụ án, hạn chế oan sai trong tố tụng hình sự việc quy định cho phép Tòa án xác minh, bổ sung chứng cứ tài liệu, đồ vật trong giai đoạn xét xử tại phiên tòa là cần thiết. Căn cứ tạm ngừng phiên tòa với lý do cần phải xác minh, thu thập bổ sung chứng cứ, tài liệu, đồ vật mà không thể thực hiện ngay tại phiên tòa cũng giống căn cứ hoãn phiên tòa được quy định tại Điểm b khoản 2 Điều 297 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 nhưng khác nhau ở chỗ thời hạn tạm ngừng phiên tòa là 05 ngày và đối với hoãn phiên tòa là 30 ngày. Vậy khi nào cần phải xác minh, thu thập, bổ sung chứng cứ, tài liệu, đồ vật mà không thể thực hiện ngay tại phiên tòa thì Tòa án hoãn phiên tòa, khi nào thì tạm ngừng phiên tòa? Bộ luật Tố tụng hình sự không quy định cụ thể về căn cứ này. Tuy nhiên có thể hiểu việc quyết định hoãn phiên tòa hay tạm ngừng phiên tòa đối với căn cứ này tùy thuộc vào quan điểm đánh giá của Hội đồng xét xử.
Trong trường hợp Hội đồng xét xử cho rằng việc xác minh, bổ sung chứng cứ có thể thực hiện được trong thời hạn 05 ngày thì sẽ quyết định tạm ngừng phiên tòa, còn nếu cho rằng không thể xác minh, bổ sung chứng cứ, tài liệu, đồ vật trong thời hạn 05 ngày thì sẽ quyết định hoãn phiên tòa.