Chương 1. Một số vấn đề chung về tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án dân sự Chương 2. Quy định pháp luật về tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án dân sự Chương 3. Thực trạng áp dụng pháp luật về tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án dân sự và một số kiến nghị.
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TẠM ĐÌNH CHỈ XÉT XỬ PHÚC THẨM VỤ ÁN DÂN SỰ 1. Khái quát về vụ án dân sự 1. Khái niệm vụ án dân sự Khái niệm vụ việc dân sự được Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 ghi nhận lần đầu tiên tại Điều 1 Bộ luật này. Đến Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì khái niệm này tiếp tục được kế thừa và hoàn chỉnh.
Và dưới góc độ nghiên cứu những quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nhận thấy: Vụ việc dân sự phát sinh tại Tòa án nhân dân trong trường hợp cơ quan, tổ chức, cá nhân gửi đơn tới Tòa án có thẩm quyền đề nghị Tòa án giải quyết các vấn đề tranh chấp, các yêu cầu không có tranh chấp, phát sinh từ các quan hệ dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động và được Tòa án thụ lý theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Trong đó, vụ việc dân sự thì bao gồm vụ án dân sự và việc dân sự 4. Như vậy, với quy định tại Điều 1 BLTTDS năm 2015 thì hai khái niệm này đã được phân biệt khá rõ. Cụ thể, có thể hiểu khái niệm VADS là những vụ án mà cá nhân, cơ quan, tổ chức gửi đơn khởi kiện tới Tòa án có thẩm quyền để yêu cầu giải quyết các tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động và được Tòa án thụ lý giải quyết theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Còn việc dân sự là trường hợp mà cá nhân, cơ quan, tổ chức gửi đơn yêu cầu tới Tòa án có thẩm quyền để yêu cầu Tòa án ra quyết định công nhận hoặc không công nhận một sự kiện pháp lý nào đó tuy không có tranh chấp nhưng làm phát sinh quyền, nghĩa vụ về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động và được Tòa án thụ lý giải quyết theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Đặc điểm vụ án dân sự Từ hai khái niệm nêu trên có thể thấy dấu hiệu để phân biệt giữa VADS và việc dân sự đó chính là yếu tố tranh chấp. Bởi lẽ, nếu VADS có dấu hiệu đặc trưng là có tranh chấp thì không có tranh chấp là dấu hiệu đặc trưng của việc dân sự. Thông qua việc phân biệt rõ ràng hai khái niệm VADS và việc dân sự khác nhau ở chỗ là có hay không có yếu tố tranh chấp đã cho thấy trình tự, thủ tục tố tụng giải quyết VADS phức tạp hơn và thời gian giải quyết sẽ dài hơn so với quá trình giải quyết việc dân sự có trình tự, thủ tục tố tụng giải quyết đơn giản hơn và thời gian 4 Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh (2020), “Giáo trình Luật Tố tụng dân sự Việt Nam”, NXB Hồng Đức – Hội Luật gia Việt Nam, tr.
8 giải quyết sẽ ngắn hơn. Nguyên nhân chính là xuất phát từ VADS thì có tranh chấp, khi đó quyền và lợi ích của các bên nguyên đơn và bị đơn có sự đối lập, mâu thuẫn với nhau, cho nên chắc chắn quá trình giải quyết VADS sẽ phức tạp hơn, trình tự, thủ tục nhiều hơn và Tòa án cần nhiều thời gian hơn để có thể giải quyết toàn diện vụ án, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự. Còn đối với việc dân sự, vì không có tranh chấp và Tòa án chỉ phải ra quyết định công nhận hoặc không công nhận một sự kiện pháp lý nào đó như yêu cầu tuyên bố một người mất tích, yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự,. theo yêu cầu từ phía đương sự mà quyền và lợi ích không có sự đối lập, mâu thuẫn với nhau.
Do đó, trình tự, thủ tục giải quyết việc dân sự đơn giản hơn và thời gian giải quyết của Tòa án sẽ ngắn hơn. Trong VADS có sự đối lập về quyền lợi giữa các đương sự là đặc điểm gắn liền với đặc điểm nêu trên. Bởi vì, xuất phát từ VADS có tranh chấp, cho nên khi phát sinh tranh chấp thì quyền lợi giữa các đương sự có sự đối kháng với nhau. Trong VADS có tối thiểu hai bên, ít nhất là hai bên có quyền lợi đối lập nhau bao gồm bên nguyên đơn và bên bị đơn.
Còn việc dân sự không có tranh chấp mà có sự đồng thuận của các bên. Bên cạnh đó, VADS phải tiến hành hòa giải. Đặc điểm này xuất phát từ một trong những nguyên tắc quan trọng được ghi nhận tại Điều 10 BLTTDS năm 2015 đó là việc Tòa án phải có trách nhiệm tiến hành hòa giải và tạo điều kiện thuận lợi để các đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ việc dân sự. Hòa giải có thể hiểu là phương thức giải quyết tranh chấp bắt buộc phải có sự tham gia của bên thứ ba.
Trong tố tụng dân sự bên thứ ba ở đây chính là cơ quan Tòa án. Theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự hiện nay, có nhiều phương thức giải quyết tranh chấp trong đó hòa giải là một phương thức giải quyết tranh chấp, thỏa thuận cũng là một phương thức giải quyết hòa bình, thương lượng thỏa thuận với nhau. Trong đó, với tố tụng dân sự, hòa giải trong trường hợp này sẽ có sự tham gia của Tòa án còn phương thức giải quyết tranh chấp thỏa thuận là để các bên thỏa thuận với nhau. Nhiệm vụ của Tòa án trong các hoạt động hòa giải là Tòa án sẽ tổ chức phiên hòa giải, sau đó Tòa án giải thích quy định của pháp luật cho các bên và Tòa án không được can thiệp vào quá trình phân giải của các bên còn việc các bên thương lượng như thế nào là quyền tự do, tự nguyện của các bên.
Tòa án có trách nhiệm tiến hành hòa giải ở trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm, cụ thể là tại phiên họp kiểm tra 9 việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải. Đặc điểm này khác với thời điểm Tòa án tiến hành thỏa thuận là thỏa thuận trong suốt quá trình tố tụng. Đối với giải quyết việc dân sự Tòa án vẫn có thể tiến hành hòa giải nhưng chỉ duy nhất đối với việc dân sự thuận tình ly hôn còn những việc dân sự khác không đặt ra thủ tục hòa giải5. Quy định này xuất phát từ bản chất của hoà giải là nhằm giải quyết tranh chấp nhưng mà việc dân sự thì không có tranh chấp.
Còn đối với thủ tục giải quyết VADS ở cấp sơ thẩm, cụ thể là trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm, Tòa án có trách nhiệm phải tiến hành hòa giải chỉ trừ những vụ án không được hòa giải hoặc không hòa giải được theo như quy định tại Điều 206, Điều 207 BLTTDS năm 2015. Từ quy định của pháp luật xác định, hòa giải và thỏa thuận đều là phương thức giải quyết tranh chấp do đó, nếu như việc dân sự không có tranh chấp thì bản chất của việc dân sự sẽ không có hòa giải trừ trường hợp thuận tình ly hôn và đây cũng là các quy định mới của BLTTDS năm 2015 còn BLTTDS năm 2004 sửa đổi, bổ sung năm 2011 không có quy định cụ thể là với việc dân sự thuận tình ly hôn có phải tiến hành hòa giải hay không. Chính vì pháp luật chưa có quy định cụ thể do đó, thực tiễn điều này đã dẫn đến một hệ quả pháp lý đó là một số Tòa án sẽ tiến hành hòa giải và có Tòa án thì không tiến hành hòa giải, không thống nhất với nhau về thủ tục hoà giải trong trường hợp này. Tuy nhiên, đến BLTTDS năm 2015 đã quy định cụ thể việc dân sự thuận tình ly hôn bắt buộc tiến hành hòa giải.
Đồng thời, Tòa án sẽ mở phiên tòa để giải quyết VADS. Đây là một đặc điểm mà VADS cũng khác với việc dân sự. Vì đối với giải quyết vụ án thì Tòa án sẽ mở phiên tòa và các phiên tòa như là phiên tòa sơ thẩm, phiên tòa phúc thẩm, phiên tòa giám đốc thẩm, phiên tòa tái thẩm nhưng đối với việc dân sự thì Tòa án mở phiên họp để giải quyết việc dân sự. Cùng với đó, thành phần Hội đồng xét xử giải quyết VADS có sự tham gia của Hội thẩm nhân dân.
Trên cơ sở căn cứ vào quy định tại Điều 63 BLTTDS năm 2015 nhận thấy thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm VADS tại phiên tòa được tiến hành bởi Hội đồng bao gồm một Thẩm phán và hai Hội thẩm nhân dân, nếu trong trường hợp đặc biệt thì Hội đồng xét xử giải quyết VADS có thể gồm hai Thẩm phán và ba Hội thẩm nhân dân còn đối với phiên họp giải quyết việc dân sự được tiến hành bởi một Thẩm phán hoặc Hội đồng bao gồm ba Thẩm phán như vậy, 5 Xem Điều 397 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. 10 không có sự tham gia của Hội thẩm nhân dân trong thủ tục giải quyết việc dân sự. Nói cách khác, Hội thẩm nhân dân không tham gia bất kì giai đoạn nào trong giải quyết việc dân sự. Hội thẩm nhân dân chỉ tiến hành giải quyết tại phiên tòa mà không tham gia giải quyết tại phiên họp.
Nguyên nhân là bởi trình tự, thủ tục giải quyết việc dân sự thì đơn giản, các bên không có tranh chấp với nhau, chỉ có một tuyến đương sự và đương sự đưa ra yêu cầu, để yêu cầu Tòa án công nhận hoặc không công nhận một sự kiện pháp lý hay công nhận quyền về dân sự nào đó. Trong trường hợp này, Tòa án chỉ trên cơ sở tài liệu, chứng cứ và Tòa án ra phán quyết công nhận hoặc không công nhận yêu cầu công nhận một sự kiện pháp lý hay là công nhận quyền về dân sự. Cùng với đó, không phải tất cả các phiên tòa giải quyết VADS cũng đều có sự tham gia của Hội đồng xét xử mà chỉ có phiên tòa sơ thẩm theo thủ tục thông thường mới có sự tham gia của Hội thẩm nhân dân còn trong thủ tục rút gọn không có sự tham gia của Hội thẩm nhân dân.