phần mở đầu, kết luận và phụ lục, nội dung của luận văn đƣợc thể hiện trong ba chƣơng với nội dung nhƣ sau: - Chƣơng 1: Lý luận chung về hợp đồng ủy quyền. - Chƣơng 2: Hợp đồng ủy quyền theo pháp luật Việt Nam trong tƣơng quan so sánh với pháp luật nƣớc ngoài. - Chƣơng 3: Giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam về hợp đồng ủy quyền. 6 z CHƢƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ HỢP ĐỒNG ỦY QUYỀN 1.
Khái quát về hợp đồng 1. Khái niệm về hợp đồng Để tồn tại và phát triển, cá nhân hay tổ chức đều phải tham gia vào nhiều mối quan hệ xã hội khác nhau, trong đó việc các bên thiết lập với nhau những quan hệ để qua đó chuyển giao cho nhau các lợi ích vật chất nhất định nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt, tiêu dùng, đóng vai trò quan trọng và là tất yếu đối với đời sống xã hội. Song, việc chuyển giao các lợi ích này không phải tự nhiên thiết lập mà chỉ đƣợc hình thành khi có hành vi có ý chí của của chủ thể, nhƣ C. Mác đã từng nói: "Tự chúng, hàng hoá không thể đi đến thị trƣờng và trao đổi với nhau đƣợc.
Muốn cho những vật đó trao đổi với nhau, thì những ngƣời giữ chúng phải đối xử với nhau nhƣ những ngƣời mà ý chí nằm trong các vật đó"[5]. Theo đó, chỉ khi có sự thể hiện và thống nhất ý chí giữa các bên, thì quan hệ trao đổi lợi ích vật chất mới đƣợc hình thành. Một trong những phƣơng thức cơ bản để thực hiện việc trao đổi lợi ích trong xã hội chính là sự thỏa thuận giữa các bên, dựa trên các nguyên tắc tự do, tự nguyện, bình đẳng và đƣợc đặt dƣới sự bảo trợ của luật pháp. Hiện tƣợng đó đƣợc định danh trong luật bằng thuật ngữ pháp lý là “Hợp đồng”.
Ngày nay, hợp đồng là công cụ pháp lý quan trọng và phổ biến để con ngƣời thực hiện các giao dịch nhằm thỏa mãn hầu hết mọi nhu cầu của mình. Cùng với sự phát triển chung của xã hội, của việc giao lƣu, buôn bán, hợp tác kinh tế, thƣơng mại, đã dẫn đến việc hình thành rất nhiều quan hệ hợp đồng giữa các chủ thể khác nhau nhƣ hợp đồng kinh tế, hợp đồng lao động. Theo đó, hợp đồng theo nghĩa chung nhất đƣợc hiểu là sự thoả thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt các quyền và nghĩa vụ trong những quan hệ cụ thể. Khái niệm hợp đồng trong hệ thống Civil law bị chi phối bởi ba nguyên tắc.
Thứ nhất, hợp đồng đƣợc xem là kết quả chung của sự gặp gỡ ý chí của các bên. Thứ hai, đó là pháp luật do các bên lập ra để ràng buộc chính các bên trong hợp đồng. Vì sự ràng buộc của hợp đồng không chỉ là hiệu lực pháp lý đƣợc dự liệu bởi các bên, mà đó còn là hiệu lực đƣợc đảm bảo bởi pháp luật, bởi tập quán hoặc bởi yêu cầu của nguyên tắc thiện chí, nhằm xác lập trách nhiệm thực thi hợp 7 z đồng phù hợp với bản chất của hợp đồng. Nguyên tắc thứ ba là tự do hợp đồng: các bên đƣợc tự do, trong phạm vi giới hạn của luật công và trật tự công cộng, để tạo ra loại hợp đồng mà họ muốn, thậm chí điều đó có thể là vô lý theo cách nhìn nhận của ngƣời khác.
Theo quy định tại Điều 1378 Bộ luật Dân sự 1994 của Bang Quebec (Canada): “Hợp đồng là sự thống nhất ý chí, theo đó một hoặc nhiều chủ thể phải thực hiện những cam kết đã định vì lợi ích của một hoặc nhiều chủ thể khác”. Tuy có tính khái quát hơn, nhƣng định nghĩa này cũng không hoàn toàn “thoát ly” khỏi định nghĩa tại Điều 1101 Bộ luật Dân sự Pháp. Điều 1101 Bộ luật Dân sự Pháp quy định, hợp đồng là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó một hoặc nhiều ngƣời cam kết với một hoặc nhiều ngƣời khác về việc chuyển giao một vật, làm hoặc không làm một công việc nào đó [35]. Cả hai định nghĩa trên đều thể hiện rõ bản chất của hợp đồng là sự “thỏa thuận” hay “thống nhất ý chí” giữa các bên.
Tuy nhiên, nội dung định nghĩa chỉ thể hiện chức năng của hợp đồng mà chƣa chỉ ra đƣợc dấu hiệu đặc trƣng thứ hai của hợp đồng: nhằm tạo ra hiệu lực ràng buộc pháp lý về quyền và nghĩa vụ giữa các bên. Tại Điều 2 của Luật Hợp đồng Trung Quốc 1999 quy định: “Hợp đồng theo qui định của Luật này là sự thỏa thuận về việc xác lập, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự giữa các chủ thể bình đẳng tự nhiên nhân, các tổ chức khác. Các thỏa thuận liên quan đến quan hệ hôn nhân, nhận con nuôi, giám hộ… thích dụng với qui định của các luật khác”. Định nghĩa hợp đồng trong Luật Hợp đồng Trung Quốc tƣơng đối dài vì bao hàm cả các nguyên tắc khái quát trong việc giao kết thực hiện hợp đồng mà ngƣời Trung Quốc muốn nhấn mạnh, đó là nguyên tắc “bình đẳng” giữa các bên tham gia hợp đồng.
Khác với quan niệm của các nƣớc theo hệ thống Civil Law, trong hệ thống Common Law, ban đầu ngƣời ta xem hợp đồng nhƣ là kết quả của các cam kết đơn giản, thể hiện bằng những hành vi pháp lý cụ thể của mỗi bên. Sau này, các thẩm phán ở Anh đã xem xét hợp đồng nhƣ là một nghĩa vụ đƣợc tạo ra bởi sự gặp gỡ ý chí giữa các bên. 8 z Định nghĩa “hợp đồng” cũng đƣợc qui định tại Điều 1-201 Bộ luật Thƣơng mại Thống nhất Hoa Kỳ (Uniform Commercial Code of United State of America, viết tắt là UCC): “Hợp đồng là tổng hợp các nghĩa vụ pháp lý phát sinh từ sự „thỏa thuận‟ của các bên…”. Văn bản Pháp điển xuất bản lần hai có nêu một định nghĩa cụ thể hơn: Hợp đồng là “một hay một tập hợp các cam kết mà nếu vi phạm những cam kết này thì bị buộc phải thực hiện bằng sự cƣỡng chế cuả pháp luật, hoặc nói cách khác pháp luật công nhận việc thực hiện những cam kết này là một nghĩa vụ”.
Trong Bách Khoa toàn thƣ về Pháp luật của Hoa Kỳ cũng có định nghĩa hợp đồng: “Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa hai thực thể pháp lý, tạo ra một sự ràng buộc nghĩa vụ nhằm để làm một việc, hoặc để không làm một việc, giao một vật xác định” [34]. Định nghĩa này thể hiện rõ ràng hơn bản chất và mục đích cơ bản của khái niệm hợp đồng và nội dung của nó cũng có tính “hội nhập” hơn với khoa học pháp lý của các quốc gia khác trên thế giới. Đã từ lâu pháp luật về hợp đồng chiếm một vị trí rất quan trọng trong hệ thống pháp luật Việt Nam, bởi vì, hầu hết các giao dịch trong xã hội, dù có mục đích kinh doanh hay nhằm đáp ứng các nhu cầu sinh hoạt thông thƣờng, đều liên quan đến hợp đồng. Pháp luật về hợp đồng của Việt Nam hiện nay đƣợc quy định trong nhiều văn bản pháp luật khác nhau nhƣ Bộ luật Dân sự, Luật Thƣơng mại, Luật Kinh doanh bảo hiểm… Tuy nhiên, Bộ luật Dân sự đƣợc coi là luật gốc quy định các vấn đề chung về hợp đồng, là nền tảng cho pháp luật về hợp đồng, điều chỉnh các quan hệ hợp đồng đƣợc xác lập trên nguyên tắc bình đẳng, tự nguyện, tự thoả thuận và tự chịu trách nhiệm.
Các quy định về hợp đồng trong Bộ luật Dân sự đƣợc áp dụng chung cho tất cả các loại hợp đồng, không phân biệt hợp đồng dân sự hay hợp đồng kinh tế, hợp đồng có mục đích kinh doanh hay hợp đồng nhằm đáp ứng các nhu cầu sinh hoạt hàng ngày. Trên cơ sở các quy định chung về hợp đồng của Bộ luật Dân sự, tuỳ vào tính chất đặc thù của các mối quan hệ hoặc các giao dịch, các luật chuyên ngành có thể có những quy định riêng về hợp đồng để điều chỉnh các mối quan hệ trong lĩnh vực đó, ví dụ nhƣ các quy định về hợp đồng mua bán hàng hoá trong Luật Thƣơng mại, hợp đồng bảo hiểm trong Luật Kinh doanh bảo hiểm… Các quy định về hợp đồng trong Bộ luật Dân sự đƣợc coi là các quy định chung còn các quy định về hợp đồng trong các luật chuyên ngành đƣợc coi là các quy 9 z định chuyên ngành và các quy định này đƣợc ƣu tiên áp dụng. Chính vì lẽ đó mà các chế định về hợp đồng và các vấn đề liên quan đến hợp đồng trong Bộ luật Dân sự năm 2005 chiếm một vị trí nòng cốt với hơn 300 Điều trên tổng số 777 Điều. Pháp luật hợp đồng của Việt Nam hiện nay, tuy có một số hạn chế nhất định đang đƣợc các nhà làm luật tiếp tục sửa đổi, bổ sung để bắt kịp với thực tiễn xã hội nhƣng nhìn chung đƣợc xem là khá tiến bộ và phù hợp với xu hƣớng phát triển kinh tế – xã hội trong thời kỳ hiện nay.
Sau nhiều lần sửa đổi, bổ sung các chế định về hợp đồng đã phần nào quán triệt, thể chế hoá các chủ trƣơng, chính sách về phát triển kinh tế – xã hội của nhà nƣớc, cụ thể hoá các quyền về kinh tế, dân sự của công dân đƣợc ghi nhận trong Hiến pháp 1992 và đáp ứng đƣợc các yêu cầu trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Các quy định về giao kết, thực hiện hợp đồng đã thể hiện quan điểm tăng cƣờng quyền tự do hợp đồng thông qua việc các bên đƣợc toàn quyền quyết định về đối tác tham gia ký kết hợp đồng, hình thức hợp đồng, nội dung của hợp đồng và trách nhiệm của các bên khi có vi phạm. Điều 338 Bộ luật Dân sự năm 2005 định nghĩa hợp đồng dân sự nhƣ sau: "Hợp đồng dân sự là sự thoả thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự". Có thể dễ dàng thấy rằng, qui định tại Điều 388 Bộ luật Dân sự năm 2005 cũng gần giống nhƣ qui định của Luật hợp đồng Trung quốc 1999.
Nhƣ vậy, một hợp đồng phải xuất phát từ yếu tố thoả thuận nhƣng không phải mọi thoả thuận đều là hợp đồng. Chỉ những thoả thuận làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự mới tạo nên quan hệ hợp đồng. Trên thực tế, những thoả thuận mang tính cách là sự giúp đỡ vô tƣ (ví dụ, cho đi nhờ xe) hay những thoả thuận mang tính cách xã giao (nhận lời mời đi dự tiệc hay đi chơi…) đều không phải là hợp đồng [7].