Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHẾ ĐỘ TÀI SẢN RIÊNG CỦA VỢ CHỒNG 1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò, ý nghĩa của chế độ tài sản riêng của vợ chồng 1. Khái niệm chế độ tài s n riêng của vợ chồng Gia đình là tế bào của xã hội, thể hiện tính chất và kết cấu của xã hội. Gia đình là sản phẩm của xã hội, đã phát sinh và phát triển cùng với sự phát triển của xã hội.
Trong xã hội có giai cấp, Nhà nước luôn bằng pháp luật điều chỉnh các quan hệ HN và GĐ, xây dựng mô hình (kiểu gia đình) phù hợp với thiết chế xã hội. Gia đình có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của xã hội.Ăngghen đã từng đề cập đến chức năng của gia đình “con ng ời ta thay đổi hàng ngày cuộc s ng c a m nh, b t đ u sản xu t ra những con ng ời hác tức à t tái sản xu t, đó à quan hệ giữa đàn ông và đàn bà, giữa cha mẹ và con cái, đó à gia đ nh”. Để cho gia đình tồn tại và phát triển, cần phải có các điều kiện vật chất - cơ sở kinh tế của gia đình, nuôi sống gia đình. Do vậy, chế độ tài sản của vợ chồng luôn được nhà làm luật quan tâm xây dựng như là một trong các chế định cơ bản, quan trọng của pháp luật về HN và GĐ.
Tuy nhiên, chế độ tài sản trong quan hệ pháp luật dân sự khác với chế độ tài sản trong quan hệ pháp luật hôn nhân gia đình. Quan hệ pháp luật tài sản trong luật dân sự là quan hệ hàng hóa, tiền tệ và mang tính chất đền bù ngang giá, còn quan hệ tài sản trong Luật HN và GĐ không mang tính chất ấy. Tất nhiên, tính chất đền bù ngang giá trong luật dân sự không bắt buộc phải có trong mọi trường hợp. Luật HN và GĐ qui định vợ chồng có quyền có tài sản riêng, phù hợp với chế định quyền sở hữu riêng về tài sản riêng của công dân đã được Hiến 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com pháp năm 1992 (Điều 58) và Bộ luật dân sự (BLDS) năm 2005 ghi nhận, phù hợp với nguyên tắc tự định đoạt về tài sản của công dân.
Vợ, chồng trước hết với tư cách là công dân, có quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt đối với tài sản thuộc quyền sở hữu của mình và nhà nước bảo hộ quyền sở hữu đó. Tài sản theo nghĩa từ điển học là "c a cải, vật ch t dùng vào mục đ ch sản xu t và tiêu dùng", còn theo Điều 163 BLDS 2005 thì: “tài sản bao gồm vật, tiền, gi y tờ có giá và các quyền tài sản". Theo khoản 1 Điều 33 Luật HN và GĐ 2000 “V chồng có quyền chiếm hữu, sử dụng, định đo t tài sản riêng c a m nh” mà không phụ thuộc vào ý chí của người kia. Những thu nhập hợp pháp của mỗi bên vợ, chồng là tài sản riêng của vợ, chồng.
Tuy nhiên, lý thuyết này không thể áp dụng cho vợ chồng trong thực tiễn do tính chất đặc biệt của quan hệ hôn nhân được xác lập đó là tính cộng đồng. Mục đích của hôn nhân đó là sau khi kết hôn, hai vợ chồng cùng chung sức, chung ý chí trong việc tạo dựng tài sản, xây dựng gia đình hòa thuận, hạnh phúc vì sự ổn định và phát triển của gia đình và xã hội. Tính chất và mục đích của quan hệ hôn nhân được xác lập đòi hỏi cần phải có một qui chế pháp lý đặc biệt nhằm điều chỉnh vấn đề tài sản riêng của vợ chồng. Ngoài ra, việc quy định quyền sở hữu riêng về tài sản của vợ chồng còn góp phần ngăn chặn hiện tượng kết hôn nhằm vào lợi ích kinh tế mà không nhằm xác lập quan hệ hôn nhân [1].
Do vậy, Nhà nước bằng pháp luật phải qui định về chế độ tài sản riêng của vợ chồng nhằm mục đích: Thứ nh t, pháp luật quy định về chế độ tài sản riêng của vợ chồng là cơ sở để vợ chồng thực hiện các quyền và nghĩa vụ về tài sản riêng của mình trong, sau thời kỳ hôn nhân; như việc luật qui định các căn cứ, nguồn gốc, phạm vi các loại tài sản riêng của vợ, chồng. Theo đó, vợ, chồng thực hiện quyền sở hữu (quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền định đoạt) đối với từng loại tài sản theo luật định nhằm bảo đảm lợi ích chung của gia đình hoặc 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nhu cầu của cá nhân vợ hoặc chồng. Đồng thời, xác định rõ các quyền, nghĩa vụ của vợ chồng liên quan đến tài sản của mình. Thứ hai, theo xu thế phát triển kinh tế, xã hội Việt Nam hiện nay để theo kịp với tiến trình phát triển của kinh tế thế giới, gia đình không còn bó hẹp với chức năng duy trì cuộc sống của các thành viên, mà thực sự đã tham gia tích cực vào sự phát triển và ổn định nền kinh tế xã hội.
Những quan hệ kinh tế đòi hỏi vợ, chồng phải có những quyết định nhanh nhạy, nhưng muốn vậy họ phải chủ động về tài sản. Luật HN và GĐ hiện hành chưa theo kịp diễn biến của những quan hệ kinh tế, dân sự hiện đại. Nếu vợ, chồng thực hiện đúng theo quy định pháp luật, trong nhiều trường hợp, họ sẽ bỏ lỡ những cơ hội làm ăn. Mặt khác, việc đưa những tài sản chung của vợ chồng vào các hoạt động sản xuất, kinh doanh cũng hàm chứa những rủi ro và có thể dẫn đến nguy cơ tiêu tán tài sản của gia đình, đặt cuộc sống gia đình vào trong tình trạng bấp bênh.
Vì thế, ở những nước mà luật pháp thừa nhận chế độ hôn sản ước định, những người vợ, chồng làm nghề kinh doanh thường nghĩ đến một chế độ tài sản riêng. Chế độ đó vừa tạo điều kiện cho họ chủ động trong hoạt động kinh doanh, vừa tránh được những rủi ro có thể xảy đến cho cuộc sống gia đình. Thứ ba, khi vợ, chồng sử dụng, định đoạt tài sản của mình nhằm bảo đảm đời sống chung của gia đình, nhu cầu của cá nhân luôn có liên quan đến quyền lợi của người thứ ba khi ký kết các hợp đồng liên quan đến tài sản của vợ chồng. Theo luật định, người thứ ba tham gia giao dịch cần phải biết rằng trường hợp nào hợp đồng đó được bảo đảm thực hiện từ tài sản chung của vợ chồng hoặc bằng tài sản riêng của vợ, chồng nhằm bảo vệ quyền lợi chính đáng của mình.
Qui định này thể hiện rõ ý nghĩa của việc quy định quyền sở hữu của vợ, chồng đối với tài sản riêng là đảm bảo cho vợ chồng thực hiện 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com các nghĩa vụ về tài sản độc lập, bảo vệ quyền lợi của người thứ ba là người có quyền. Vì vậy, pháp luật của một số nước thường qui định chế độ tài sản của vợ chồng phải được niêm yết, thông báo tại nơi cư trú của vợ chồng khi đăng ký kết hôn. Vợ chồng có thể lựa chọn chế độ tài sản ước định (theo sự thỏa thuận bằng văn bản của vợ chồng từ trước khi kết hôn); hoặc lựa chọn chế độ tài sản pháp định (nếu vợ chồng không ký kết hôn ước từ trước khi kết hôn thì pháp luật cho rằng cặp vợ chồng đó đã mặc nhiên lựa chọn chế độ tài sản theo luật định). Tùy theo phong tục, tập quán, điều kiện kinh tế - xã hội ở mỗi quốc gia mà luật pháp các nước có qui định về chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định là khác nhau.
Thứ t , việc qui định chế độ tài sản riêng của vợ chồng trong pháp luật là cơ sở pháp lý để các cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp về tài sản giữa vợ chồng với nhau và giữa vợ chồng với bên thứ ba là người có quyền lợi liên quan khác. Chế độ tài sản riêng của vợ chồng là một bộ phận cấu thành nên chế định chế độ tài sản của vợ chồng. Nếu đặt trong mối tương quan với khái niệm chế độ tài sản của vợ chồng thì khái niệm chế độ tài sản của vợ chồng là khái niệm gốc, khái niệm chế độ tài sản riêng của vợ chồng là khái niệm phái sinh từ khái niệm đó. Theo Tiến sĩ Nguyễn Văn Cừ thì: “ hế độ tài sản c a v chồng à tổng h p các qui ph m pháp uật điều ch nh các quan hệ về tài sản c a v chồng, bao gồm các qui định về căn cứ xác ập tài sản, quyền và ngh a vụ c a v chồng đ i v i tài sản chung, tài sản riêng riêng, nguyên t c phân chia tài sản giữa v chồng”.
Như vậy, chế độ tài sản riêng của vợ chồng được những nhà làm luật dự liệu do tính chất, mục đích của quan hệ hôn nhân được xác lập, thể hiện như là yếu tố khách quan, phụ thuộc vào các điều kiện kinh tế - xã hội, phong tục, tập quán, truyền thống văn hóa để Nhà nước qui định trong pháp luật về 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com chế độ tài sản riêng của vợ chồng phù hợp với đời sống xã hội trong từng giai đoạn phát triển. Vậy, có thể hiểu: Chế độ tài sản riêng c a v chồng là nhóm qui ph m pháp luật điều ch nh các quan hệ x hội phát sinh giữa v và chồng; giữa v chồng v i ng ời thứ ba trong việc chiếm hữu, sử dụng và định đo t tài sản thuộc sở hữu riêng c a v hoặc chồng. Theo luật hiện hành, vẫn chưa có một khái niệm chính thức về chế độ tài sản riêng của vợ chồng được qui định trong một văn bản cụ thể của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Chế độ tài sản riêng của vợ chồng được qui định trong pháp luật như là một tất yếu khách quan, nhằm điều chỉnh quan hệ tài sản riêng của vợ chồng, góp phần ổn định các quan hệ xã hội.
Đặc điểm của chế độ tài s n riêng của vợ chồng Chế độ tài sản riêng của vợ chồng thực chất là chế độ sở hữu tài sản của mỗi bên vợ, chồng. Xuất phát từ tính chất và mục đích đặc biệt của quan hệ hôn nhân được xác lập, vợ, chồng với tư cách vừa là công dân, vừa là chủ thể của quan hệ HN và GĐ, vừa là chủ thể của quan hệ dân sự khi thực hiện quyền sở hữu của mình tham gia các giao dịch dân sự.