mở đầu và kết thúc không rõ ràng, thường ít biến động nhưng chỉ phối một cách căn bản các quá trình tâm lý đi kèm với nó, Vĩ dụ: Sự chú ý, tâm trạng, sự ganh đua, nghi ngo,. e Thuộc tính tâm lý Là những hiện tượng tâm lý tương đối ổn định, khó hình thành và khó mắt đi (hình thành lâu dài và kéo dài rất lâu) có khi kéo dài suốt cả đời người, tạo thành những nét riêng của người đó (nhân cách), chỉ phối các quá trình và trạng thái tâm lý của người đó. Nhiệm vụ của tâm lý học: - Nghiên cứu bản chất hoạt động của tâm lý. - Phát hiện ra các quy luật hình thành, phát triển tâm lý.
- Tim ra cơ chế diễn biến và thể hiện các hiện tượng tâm lý. - Các quy luật về mối quan hệ nảy sinh và phát triển tâm lý. Ý nghĩa của việc nghiên cứu tâm lý học: - Nghiên cứu tâm lý học sẽ góp phần đưa ra những giải pháp hữu hiệu cho việc hình thành, phát triển tâm lý, sử dụng tâm lý trong nhân tố con người có hiệu quả nhất. 2 - Nghiên cứu tâm lý học giúp cho các ngành khoa học khác có cơ sở nghiên cứu chuyên ngành về những vấn đề có liên quan đến tâm lý người.1 Khái niệm Tâm lý y học là khoa học nghiên cứu các hiện tượng tâm lý của người bệnh, của cán bộ y tế trong những điều kiện và hoàn cảnh khác nhau.
Nói cách khác tâm lý y học là khoa học nghiên cứu không chỉ quá trình phát sinh bệnh (nguyên nhân gây bệnh), quá trình phát triển, tiên lượng và kết quả điều trị bệnh của người bệnh mà còn là khoa học nghiên cứu tác động của cán bộ y tế đối với người bệnh dé điều trị hay phòng ngừa bệnh làm thay đổi một cách tích cực hoặc tiêu cực căn bệnh đó. Nhiệm vụ của tâm lý học y học: Tập trung nghiên cứu những vấn đề cơ bản sau: - Cac trang thái tâm lý của người bệnh và cán bộ y tế. - _ Các yếu tố tâm lý của người bệnh và cán bộ y tế ảnh hưởng đến sự phát sinh, phát triển bệnh, quá trình điều trị và phòng bệnh -_ Mối quan hệ giao tiếp giữa cán bộ y tế với người bệnh trong phòng bệnh và chữa bệnh. Ý nghĩa của việc nghiên cứu tâm lý học y học -_ Cung cấp kiến thức cho cán bộ y tế, người bệnh và những người quan tâm về các loại bệnh, nguyên nhân phát sinh, phát triển của bệnh và cách phòng ngừa, điều trị có hiệu quả các bệnh đó.
- Hướng dẫn cho cán bộ y tế, người bệnh và những người quan tâm về nghệ thuật giao tiếp, cách thức phối hợp hành động (thông qua hiểu tâm lý của đối tượng tác động) đề thúc đây su tién bộ của người bệnh. Ban chất tâm lý và phương pháp nghiên cứu tâm lý người bệnh: 2. Bản chất tâm lý người 2. Tâm lý người là sự phản ánh hiện thực khách quan vào não người thông qua chủ thể.
- Thế giới khách quan muôn màu, muôn vẻ, con người cảm nhận được thế giới khách quan thông qua việc phản ánh vật chất khách quan đó (sờ thấy, nhìn thấy, ngôn ngữ miêu tả.) 3 vào hệ thần kinh, bộ não người để tạo ra trên đó hình ảnh tỉnh thần (tâm lý) chứa đựng vật chất đó. - Tâm lý người mang tính chủ thể: + Cùng nhận một hiện thực khách quan tác động nhưng ở những chủ thể (con người) khác nhau cho ta những hình ảnh tâm lý với những mức độ và sắc thái khác nhau. Ví dụ: Cùng quan sát một người bệnh, điều dưỡng viên này phát hiện thấy da xanh, niêm mạc nhợt, song điều dưỡng viên khác lại không thấy điều đó. Hoặc cùng người bệnh đó tại thời điểm này thấy như vậy nhưng ở hoàn cảnh khác lại cho những kết quả khác.
Tâm lý người mang bản chất xã hội Tâm lý người được hình thành và phát triển trong quá trình của hoạt động và giao tiếp, là kết quả của quá trình lĩnh hội và tiếp thu vốn kinh nghiệm và nền văn hóa xã hội, đồng thời chính tâm lý đó lại tác động trở lại hiện thực khách quan theo chiều hướng hoặc tích cực hoặc tiêu cực. Từ bản chất trên, chúng ta cần lưu ý trong thực tiễn y học: -_ Tâm lý có nguồn gốc thế giới khách quan nên khi điều trị, chăm sóc người bệnh cần chú ý đến hoàn cảnh sống và hoạt động của họ. - Tâm lý người mang tính chủ thể nên khi điều trị, chăm sóc người bệnh cần chú ý cái riêng trong tâm lý của mỗi người. - _ Tâm lý người có nguồn gốc xã hội nên trong điều trị, chăm sóc người bệnh cần chú ý đến môi trường xã hội, nền văn hóa xã hội và các mối quan hệ mà họ sông và làm việc.
Bản chất tâm lý người bệnh Bản chất tâm lý người bệnh vừa mang bản chất tâm lý người vừa mang những nét đặc thù riêng: 2. Tính chủ thể của người bệnh phản ánh thế giới khách quan bị ức chế bởi những tác động của bệnh tật Bệnh tật thường làm cho người bệnh nhận thức về thé giới khách quan bị sai lệch. Họ thường bị căng thẳng khi bị đối đầu với những nỗi đau của bệnh tật và hay suy luận không 4 căn cứ về bệnh viện hoặc nhân viên y tế nên dễ có những cách nhìn nhận không khách quan về họ. Tâm lý người bệnh tác động đến các mỗi quan hệ xã hội, môi trường tự nhiên Bệnh tật thường làm thay đổi tâm lý người bệnh, có khi chỉ làm thay đôi nhẹ về cảm xúc, có khi làm biến đổi mạnh mẽ, sâu sắc đến toàn bộ nhân cách người bệnh.
Người có bệnh tật thường có tính cách, khí chất thay đổi so với trước: nhút nhát, yếu hèn, trầm tư, phó mặt sự sống của mình hoặc ngược lại có những tính cách, khí chất nóng nay, dir ton, bat can doi. Phương pháp nghiên cứu tâm ly người bệnh Phương pháp nghiên cứu tâm lý người bệnh được xây dựng trên cơ sở các phương pháp nghiên cứu khoa học nói chung, nghiên cứu tâm lý học và tâm lý y học nói riêng. Đó là các phương pháp cơ bản sau: - Quan sát - Dam thoại (trò chuyện, trao đổi nghiên cứu tiền sử, bệnh sử) - _ Phân tích sản phẩm. - Phuong phap chuyên gia,.
Một số yếu tố chính tác động đến tâm lý người bệnh Khi bị bệnh, tâm lý của người bệnh không thê không bị thay đổi. Sự thay đổi tâm lý người bệnh thường bị tác động tương hỗ bởi nhiều phương tiện: - _ Nhận thức của người bệnh về căn bệnh của mình. - _ Nhân cách của người bệnh. - _ Phẩm chất nhân cách của cán bộ y tế.
-__ Môi trường xung quanh. Nhận thức của người bệnh về bệnh tật: Nhận thức là một trong ba mặt cơ bản có mỗi quan hệ chặt chẽ với nhau trong đời sống tâm lý của con người (nhận thức, tình cảm, hành động). 5 Nhận thức nói chung, nhận thức bệnh tật nói riêng là một quá trình phản ánh hiện thực khách quan dưới nhiều mức độ khác nhau: từ cảm giác, tri giác. Bệnh tật có thể làm người bệnh thay đổi nhẹ về cảm xúc của mình như hơi hó chịu, đôi lúc hơi buồn rầu, v.
khi họ nhận thức còn đơn giản về căn bệnh của mình, song cũng có thể làm biến đổi mạnh mẽ nhân cách người bệnh như: luôn cáu kỉnh, bực tức, thiếu tự chủ, thậm chí bi quan dẫn đến những hành vi sai lệch (tự tử, trả thù đời) khi họ nhận thức rõ hon về bản chất của căn bệnh. Nhân cách người bệnh: Nhân cách người bệnh là hệ thống các phẩm chất của họ được tạo nên trong quá trình hoạt động xã hội và được phản ánh vào toàn trạng người bệnh tác động tích cực hoặc tiêu cực lên sự phát sinh, phát triển của bệnh. Nhân cách con người nói chung, nhân cách người bệnh nói riêng bao gồm 4 thuộc tính cơ bản: Xu hướng, tính cách, năng lực, khí chất. Hệ thống các thuộc tính này có ảnh hưởng lớn đến tâm lý người bệnh.
Bệnh tật có thể làm cho người bệnh mang kiểu khí chất không cân bằng, không linh hoạt và dé bj tén thương; họ thường có biểu hiện giảm trí nhớ, đãng trí, không tập trung chú ý, giảm khả năng nhận thức, lao động, dễ bị ám thị, bị động, phụ thuộc, thậm chí tin vào bất cứ điều gì (kế cả mê tín, số phận) nhằm mong thoát nhanh khỏi bệnh tật hiện tại. Nhân cách người bệnh sẽ tạo nên những phản ứng phủ nhận hoặc quá đề cao bệnh tật. Vì vậy, cán bộ y tế cần nắm được đặc điểm về nhân cách của người bệnh để thông cảm và giúp đỡ họ vượt qua bệnh tật. Nhân cách của cán bộ y tế: e Nhân cách của cán bộ y tế là hệ thống các phẩm chất của họ, biểu hiện ở bản sắc và giá trị xã hội của người đó, nó có tác động mạnh mẽ đến ngưới bệnh.
Những phẩm chất này được xem xét qua 4 thuộc tính cơ bản của nhân cách có liên quan đến tính chất nghề nghiệp: o_ Xu hướng nghề y. o_ Tính cách người thầy thuốc e_ Phẩm chất của cán bộ y tế có thể được khái quát ở 2 mặt: Đức và tài, nói cách khác là đạo dức và tài năng. Đạo đức của người thầy thuốc đòi hỏi phải có tâm với nghề nghiệp, không làm điều ác, chân thật, tình cảm, độ lượng, giúp đỡ mọi người. Tài năng của người thầy thuốc đòi hỏi phải có kiến thức sâu rộng, có kỹ năng, kỹ xảo trong chuyên môn, biết cộng tác trong hoạt động, biết nghiên cứu khoa học để áp dụng trong thực tiễn.
Bác Hồ đã từng dạy “Lương y như từ mẫu”,”Thầy thuốc như mẹ hiền”. Hải Thượng Lãn Ông đã tổng kết được 8 đức tính cơ bản của người thầy thuốc chân chính mà đến nay vẫn là những lời khuyên quý báu: Nhân: nhân từ, bát ái, không ích kỹ. Minh: hiểu biết sâu rộng, sáng suốt. Trí: khôn khéo, nhạy bén, không cầu thả.
Đức: phải có đạo đức, không làm điều ác. Thành: thành thật, trung thực. Khiêm: khiêm tốn học hỏi, thật sự cầu thị. Cần: chuyên cần, chịu khó.
Môi trường xung quanh Môi trường xung quanh bao gồm môi trường tự nhiên và môi trường xã hội có quan hệ mật thiết với nhau và thường có tác động mạnh mẽ đến tâm lý của người bệnh.