Chương 1 đã giải thích về ba loại báo cáo tài chính quan trọng và các thành phần của chúng. Chương 2 sẽ trình bày những công cụ cần thiết để diễn giãi các báo cáo này và đánh giá hoạt động kinh doanh cúa một doanh nghiệp. Bên cạnh đó, chương này còn giói thiệu thêm một phương pháp giúp bạn đánh giá các khía cạnh phl tài chính của một doanh nghiệp, nhằm dự báo tình hình hoạt dộng tài chính của doanh nghiệp đó trong tương lai. PHÂN TÍCH TỶ SUẤT Thông thường, báo cáo tài chính được sử dụng với nhiều mục đích khác nhau.
Người cho vay muốn biết liệu doanh nghiệp đang tìm ngàn quỷ có khả năng hoàn vốn lại không. Các nhà đầu tư quan tâm đến khả năng ổn định tài chính và phát sinh lợi nhuận củng như thu nhập của doanh nghiệp có thể tàng hoậc giảm như thế nào trong tương lai. Những nhân viên có nâng lực sử dụng báo cáo tài chính dể đánh giá tình hình tài chính hoặc hoạt động kinh doanh hiện tại của một công ty trước khi họ ký kết hợp đồng lao động với công ty đó. Các cơ quan ban hành định chế cần các báo cáo tài chính để đánh giá hoạt động và tình hình tài chính của doanh nghiệp hoặc ngành công nghiệp đó.
Mỗi mục đích sử dụng đại diện cho một hình thức phân tích tài chính. Phân tích tài chính thường bao gồm việc nghiên cứu các mối quan hệ, hay tỷ suất giữa các mục nêu trong các báo cáo tài chính. Những tỷ suất này giúp mô tả tình trạng tài chính của một doanh nghiệp, năng suất hoạt động, khà nảng sinh lợi tương ứng, cùng như nhận thức của các nhà đầu tư được thể hiện thông qua hành vỉ của họ trên thị trường tài chính. Các tỷ suất này cũng giúp chuyên viên phấn tích hoặc những người ra quyết định có khái niệm chung về nguồn gốc của một doanh nghiệp, hiện trạng và tiềm năng trong tương lai của doanh nghiệp đó.
Trong hầu hết trường hợp, các tỷ suất này thường không nói lẻn đầy đủ bản chất của một doanh nghiệp, nhưng chúng có thể là sự khởi đầu. Nhũng tỷ suất được nêu sau đây đều bao trùm toàn bộ các ngành cổng nghiệp, tuy nhiên, nó sẽ có ý nghĩa nhất nếu đem ra so sánh dựa trên những phép đánh giá giống nhau cho các doanh nghiệp khác cùng ngành. Tỷ suất sinh lợi Tỷ suất sinh lợi liên quan đến lượng thu nhập đạt được với các nguồn lực sử dụng để tạo ra chúng. Lý tưởng thì một doanh nghiệp nên thu dược càng nhiều lợi nhuận càng tốt dựa trên một lượng tài chính có sần.
Những tỷ suất lợi nhuận cần quan tâm là: tỷ lệ lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA - return on assets), tỷ lệ lợi nhuận trên vốn cố phần (ROE - return on equity), và thu nhập trên mồi cổ phiểu (EPS - earnings per share). Ngoài ra còn có “tỷ lệ hoàn vốn đầu tư" (ROI - return on investment) - một thuật ngử tài chính thường được sừ dụng nhiều và có phần bị lạm dụng hiện nay. Tỷ lệ lợi nhuận trên tổng tài sản liên quan đến thu nhập ròng và tổng tài sản của công ty, được tính như sau: ROA = Lợi nhuận ròng / Tồng tài sản ROA liên quan đến lợi nhuận ròng và vốn đầu tư trong tất cả các nguồn tài chính nằm trong tay cấp quản lý. Cóng cụ này tò ra hửu ích nhất khi được sử dụng dể đánh giá tính hiệu quả của việc sử dụng nguồn tài chính này - không quan tâm đến xuất xứ nguồn tài chính.
Các nhà phân tích và đầu tư thường so sánh tỳ lệ lợi nhuận trên tống tài sản của một công ty VỚI tỷ lệ lợi nhuận trên tồng tài sản của những đối thủ cạnh tranh cùng ngành nhằm đánh giá tính hiệu quả của cấp lãnh đạo. Ví dụ, nêu ROA của công ty A là 12% còn công ty B là 8%, người ta sẽ có kết luận tích cực về cấp quản lý của công ty A. Tỷ lệ lợi nhuận trên vốn cổ phần liên quan đến lợi nhuận ròng và vốn đầu tư bởi các cổ đồng. Tỷ lệ này đo tính hiệu quả của quá trình sừ dựng vốn góp của các cổ dông.
Tỷ lệ lợi nhuận trên vốn cổ phần được tính như sau: ROE = Lợi nhuận ròng/ Vốn góp của các cổ đông “Tỷ lệ hoàn vốn đầu tư" thường được sừ dụng trong các cuộc thương thảo kinh doanh liên quan đến khả nảng sinh lợi. Chẳng hạn, những câu nói như "Mục tiêu của chúng tồi là đạt tỷ lệ hoàn vổn đầu tư 12%” khá phổ biến. Đáng tiếc là chưa có định nghĩa chuẩn về tỷ lệ hoàn vốn đầu tư, vì “vốn đầu tư” có thể được phân tích từ nhiều quan điểm. Nó có thé là tài sản được sử dụng trong một hoạt động đặc biệt, có liên quan đến vốn góp của các cố dông, hoặc tài sản đầu tư trừ đi bất kỳ khoản nợ nào phát sinh trong quá trình công ty đang thực hiện dự án.
Tỷ lệ hoàn vốn đầu tư củng có thể được hiểu là tỷ suất thu nhập nội bộ - một phép tính tỷ lệ thu hồi rất cụ thể dược mô tả trong chương ó. Vì vậy, khl ai đó nói đến thuật ngữ “tỷ lệ hoàn vốn đầu tư”, hãy luôn tìm hiểu rõ ràng. Tỳ lệ lợi nhuận trước thuế và lãi vay (EBIT margin), thường được biết đến nhiều hơn với cái tên lợi nhuận hoạt động trên doanh thu, được nhiều chuyên viên phân tích dùng để đánh giá khả năng sinh lợi từ các hoạt động kinh doanh của một công ty. Lọi nhuận hoạt động trên doanh thu lấy từ phương trình chi phí lâi suất và thuế mà cấp quản lý hiện tại có thể không kiểm soát, do vậy biểu thị những dấu hiệu rỏ ràng về hoạt động cúa cáp quản lý.
Để tính toán lợi nhuận hoạt động trèn doanh thu, hãy sử dụng công thức sau: Lợi nhuận hoạt động trên doanh thu = EBIT / Doanh thu thuán Các công ty cổ phần thường có nhiều chú sở hũu, và không phải ai cũng nắm giữ sô’ lượng cổ phần bằng nhau. Vì lý do này, người ta thường diển đạt lọi nhuận trên mỗi cổ phiểu. Cách tính thu nhập trên mỗi cổ phiểu (EPS) có thể phức tạp nếu có trên một cấp chủ sở hửu, mỗi cấp có yêu cầu khác nhau dựa trên mức thu nhập và tài sản đầu tư vào công ty. Tỷ lệ thu nhập trên mồi cổ phiểu phái được thể hiện trong các bảng báo cáo được công bố, thường có nhiều biển thề khác nhau, như thu nhập trên mỗi cổ phiểu "nguyên thúy" hoặc “loãng giá hoàn toàn”.
Một công thức đã được đơn giản hóa có chứa toàn bộ các yếu tố quyết định lợi tức trên mồi cổ phiểu là: Thu nhập trên mỏi cổ phiểu loãng giá hoàn toàn = (Thu nhập ròng - Lái cổ phiểu ưu đãi) / (Só lượng cổ phiểu thường + Những khoản tương đương) Tỷ lệ lợi nhuận trên doanh thu (ROS - return on sales) thể hiện tỷ lệ thu hồi lợi nhuận trên doanh số bán được. Qua đó cho chúng ta biết tỷ lệ phần trăm của mỗi đô la doanh số sẽ đóng góp vào lọi nhuận. Tỷ lệ lọi nhuận trên doanh thu được tính như sau: Tỷ lệ sinh lòi trẽn doanh thu = Lợi nhuận ròng / Doanh thu thuán Cả nhà quản lý và nhà đầu tư đều nghiên cứu kỷ về xu hướng tỷ lệ lợi nhuận trên doanh thu. Nếu tỷ lệ này tăng, chứng tò khách hàng chấp nhận mua giá cao, hoậc cấp quản lý kiểm soát chi phí tốt, hoặc cả hai.
Trái lại, tỷ lệ lợi nhuận trên doanh thu giàm có thể báo hiệu chi phí đang vượt tầm kiểm soát của cấp quàn lý, hoặc công ty đó dang phải chiết khấu đề bán sản phẩm hay dịch vụ của mình. Tại sao tỷ lệ lợi nhuận của cóng ty này lại giảm gần một nửa vào giữa năm 2001 và 2002? Một cách để thu hẹp câu trả lời là xác định loại chi phí - hoặc các khoản thuế - đả tăng tương ứng với doanh thu. Khi kiểm tra các báo cáo thu nhập của cóng ty, bạn sẽ thấy rằng công ty đã nộp thêm các khoản thuế tương ứng với doanh thu năm 2002 nhiều hơn năm trước (9,4% so với 6,5%). Chứng ta củng có thể nhìn vào giá vốn hàng bán ra hoặc chỉ phi hoạt động với cùng cách thức như khi tìm kiếm câu trả lời trên.
Không giống thuế, những khoản này thể hiện những lình vực quan trọng mà cấp quản lý công ty đang kiểm soát. Các nhà đầu tư sử dụng phân tích tỷ suất sinh lợi để đánh giá khả năng thu nhập trong tương lai của một cồng ty. Như đã nêu trong vi dụ, các nhà quản lý có thể sử dụng nó để xác định những lĩnh vực mà hiệu suất hoạt động bị hạn chế để tiến hành điều chinh. Tỷ suất hoạt động Tỷ suất hoạt động chi ra mức độ hiệu quả của một tổ chức trong việc sử dụng tài sản.
Việc sử dụng tài sản hiệu quả sẽ làm giảm nhu cầu đầu tư từ các bên cho vay và chủ sở hửu. Giảm đầu tư cũng đồng nghĩa VỚI việc giảm cả rủi ro lẫn chí phí. Hai tỷ lệ hoạt động mà nhiều nhà quản lý phải thường xuyên đối mặt là kỳ thu tiền chưa thanh toán và tỷ lệ thay thế tồn kho. Kỳ thu tiền chưa thanh toán (hoặc hạn thu) cho chúng ta biết thời gian trung bình cần thiết để thu trên doanh thu do công ty tạo ra.
Như đâ thảo luận, kỳ thu kéo đài nghĩa là cống ty cần nhiều vốn lưu động hơn để thực hiện kinh doanh - vốn lưu động phải trả lài sẽ làm tiêu hao lợi nhuận! Chúng ta tìm kỳ thu tiền chưa thanh toán qua hai bước. Đầu tiên là xác định doanh thu trung bình trong ngày bằng phép tính sau: Doanh thu trung binh ngày = Doanh thu thuần / 365 Chúng ta sử dụng kết quả này để đạt được mục tiêu cuối cùng: Kỳ thu tiền chưa thanh toán = Khoản phải thu / Doanh thu trung bình ngày Với hầu hết các hình thức phân tích tỷ suất, kỳ thu tiền chưa thanh toán sê phát huy hiệu quả nhiều nhất khi chúng ta sử dụng nó dể (1) so sánh cồng ty này với công ty khác hoặc với nhóm đối thủ cạnh tranh cùng ngành hay (2) kiểm tra xu hướng. Ví dụ, Gateway và đối thủ Dell đều là những nhà sản xuất máy tính cá nhân theo đơn đặt hàng. Cả hai cùng bán sản phẩm trực tiếp cho khách hàng.
Mô hình hoạt động của hal công ty là như nhau. Do đó, việc so sánh kỳ thu tiền chưa thanh toán sẽ cho ta biết được công ty nào thu tiền nợ hiệu quả hơn.